<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><?xml-stylesheet href="/rss/feed.xsl" type="text/xsl"?><rss version="2.0" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><channel><title>Tổ Sư Thiền</title><description>Khi chưa có trời đất ta là cái gì</description><link>https://tosuthien.org</link><item><title>THAM THIỀN YẾU CHỈ</title><link>https://tosuthien.org/post/tham-thien-yeu-chi</link><guid isPermaLink="false">tham-thien-yeu-chi</guid><pubDate>Tue, 23 Jun 2026 00:00:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt;SƠ ĐỒ&lt;a href=&quot;#sơ-đồ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic relation-dagre-flow-lr-animated-capsule&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  title 内容发布审核流程&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  desc 创作者提交内容到发布上线的标准链路（含驳回回路）&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  nodes&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Nhãn thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id eye&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính MẮT&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mdi/database-eye&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Nhĩ thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id ear&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính TAI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/earphone-bluetooth&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Tỷ thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id nose&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính MŨI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mdi/smell&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Thiệt thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id tongue&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính LƯỠI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/tongue&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Thân thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id body&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính THÂN&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/body&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Ý thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc QUYẾT ĐỊNH&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/brain&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Mạt-na thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id self-acceptance&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc CHẤP NGÃ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/body-scan&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label A-lại-da thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id consciousness-sea&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc BIỂN THỨC NHÓM CHỨA&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/ai-agent&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  relations&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    eye -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    ear -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    nose -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    tongue -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    body -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    thought -&amp;gt; self-acceptance&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    self-acceptance -&amp;gt; consciousness-sea&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    consciousness-sea -&amp;gt; self-acceptance&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    self-acceptance -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;theme light&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  palette antv&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;h2&gt;ĐIỀU KIỆN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TIÊN CỦA SỰ THAM THIỀN&lt;a href=&quot;#điều-kiện-quyết-định-đầu-tiên-của-sự-tham-thiền&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Mục đích tham thiền là cầu được minh tâm kiến tánh. Muốn thế, phải gạn lọc các thứ nhiễm ô của tự tâm, thấy rõ mặt thật của tự tánh.
Nhiễm ô tức là vọng tưởng chấp trước. Tự tánh là đức tướng trí tuệ Như Lai. Đức tướng trí tuệ Như Lai, chư Phật và chúng sanh đồng có đủ, không hai không khác.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu rời vọng tưởng chấp trước là chứng được đức tướng trí tuệ Như Lai của mình; phải thế là Phật, không phải thế là chúng sanh.
Chỉ vì chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay mê muội đắm chìm trong sanh tử, nhiễm ô đã lâu, không thể trong chốc lát thoát được vọng tưởng, thật thấy bản tánh, vì thế nên phải tham thiền.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Điều kiện quyết định đầu tiên của sự tham thiền là trừ diệt vọng tưởng.
Phương pháp trừ vọng tưởng như thế nào? Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nói phương pháp rất nhiều, nhưng rất giản lược chẳng qua một chữ hết, hết là Bồ-đề.
Thiền tông do Tổ sư Đạt-ma truyền sang Trung Hoa, sau đến đức Lục Tổ, tông phong bủa khắp sáng chiếu cổ kim.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Câu rất khẩn yếu mà đức Tổ sư Đạt-ma và Lục Tổ khai thị cho môn đồ là “Trừ sạch các duyên, một niệm không sanh”.
Trừ sạch các duyên tức là vạn duyên buông hết. Hai câu: “Vạn duyên buông hết, một niệm không sanh” chính là điều kiện quyết định đầu tiên của sự tham thiền.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hai câu ấy nếu thực hiện không được, tham thiền chẳng những nói không thành công mà vào cửa cũng không thể được.
Bởi vì vạn duyên còn ràng buộc, niệm niệm mãi sanh diệt, ông làm sao tham thiền được?“Vạn duyên buông hết, một niệm không sanh” là điều kiện quyết định đầu tiên của sự tham thiền, dĩ nhiên chúng ta đã biết.
Nhưng phải làm thế nào mới có thể thực hiện được?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Có hai cách:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;1- Bậc thượng, một niệm hằng dứt, thẳng đến vô sanh liền chứng Bồ-đề, không còn một mảy may ràng buộc.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;2- Bậc thứ, dùng lý trừ sự, biết rõ tự tánh xưa nay vẫn thanh tịnh, phiền não Bồ-đề, sanh tử Niết-bàn đều là giả danh không can dự gì đến tự tánh của ta.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Muôn sự muôn vật đều là việc chiêm bao, huyễn hóa, hòn bọt, cái bóng. Sắc thân tứ đại của ta đây và sơn hà đại địa ở trong tự tánh như hòn bọt ngoài bể cả, mặc tình sanh diệt không ngại gì bản thể.
Ta không nên theo sự sanh, trụ, dị, diệt của tất cả cái huyễn hóa ấy mà khởi ưa, chán, thủ, xả. Toàn thân buông hết như người chết không khác, tự nhiên căn, trần, thức, tâm tan biến; tham, sân, si, ái diệt sạch.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Mọi việc đau nhức, khổ vui, đói lạnh, no ấm, vinh nhục, sanh tử, họa phước, kiết hung, chê khen, được mất, an nguy, khó dễ v.v… nơi thân một mực đẩy chúng ra ngoài.
Có thế mới mong buông hết.
Một buông, tất cả đều buông, mãi mãi buông gọi là vạn duyên buông hết. Vạn duyên buông hết rồi, vọng tưởng tự tiêu, phân biệt không khởi, các chấp trước hằng xa lìa.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Khi ấy, một niệm không sanh, tự tánh sáng suốt, toàn thể hiện bày.
Được vậy là điều kiện tham thiền đã đầy đủ, lại dụng công chân thật tham cứu mới có thể được minh tâm kiến tánh.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hằng ngày thường có các vị tu thiền đến hỏi câu thoại đầu.
Phàm là pháp vốn không phải pháp, một khi rơi vào ngôn ngữ tức không phải thật nghĩa.
Biết được một tâm này xưa nay là Phật, ngay đó vô sự muôn việc hiện thành, nói tu nói chứng đều là ma thuyết.
Đức Đạt-ma sang Trung Hoa “Chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”.
Chỉ bày rành rõ tất cả chúng sanh đều là Phật.
Thẳng đó nhận được tự tánh thanh tịnh này, tùy thuận không nhiễm ô, trong hai mươi bốn giờ đi đứng ngồi nằm tâm không khởi vọng, ấy là hiện thân thành Phật; chẳng cần dụng tâm dụng lực, cũng chẳng cần tạo tác thi vi, không nhọc một mảy may suy nghĩ nói năng.
Do đó, nói thành Phật là việc rất dễ dàng, rất tự tại, đạt được là tại nơi ta, không phải cầu bên ngoài.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tất cả chúng sanh trên thế giới này, nếu thật không cam chịu trường kiếp trầm luân trong tứ sanh lục đạo, hằng đắm chìm nơi bể khổ, muốn thành Phật được thường, lạc, ngã, tịnh, phải tin lời chân thật của Phật Tổ “buông hết tất cả, không nghĩ nhớ thiện ác”, mỗi người khả dĩ liền đó thành Phật.
Chư Phật, Bồ-tát và lịch đại chư vị Tổ sư phát nguyện độ hết tất cả chúng sanh, không phải là không bằng cứ, đâu phải chỉ hứa nguyện suông.
Đã nói ở trên, pháp vốn như vậy, Phật Tổ lắm phen dạy rõ căn dặn kỹ càng, là chân ngữ thật ngữ, không một mảy hư dối.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Phật do lòng đại từ bi không nệ tất cả chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay mê muội chìm đắm trong biển khổ sanh tử, vừa ra lại vào, luân chuyển không dừng, mê lầm điên đảo, trái tánh giác hợp vọng trần.
Ví như vàng ròng bỏ vào hầm phẩn, không những chẳng dùng được mà lại nhơ nhớp quá lắm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngài bất đắc dĩ nói ra tám muôn bốn ngàn pháp môn, tùy căn cơ chẳng đồng của chúng sanh dùng đối trị tham, sân, si, ái v.v… tám muôn bốn ngàn bệnh tập khí vi tế.
Như vàng đã dính các thứ nhơ nhớp, mới dạy người dùng sạn, bàn chải, nước, vải v.v… để mài giũa, chùi rửa nó.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sở dĩ Phật nói pháp, mỗi môn đều là diệu pháp, đều có thể liễu thoát sanh tử, thành Phật đạo.
Chỉ có vấn đề hợp cơ hay không hợp cơ, không cần phân biệt pháp môn cao hay thấp.
Pháp môn lưu truyền ở Trung Hoa rất phổ thông là Tông, Giáo, Luật, Tịnh, Mật.
Năm pháp môn này tùy căn tánh và chỗ hứng thú của mỗi người thực hành môn nào cũng tốt.
Quan trọng là trong một môn được thâm nhập, trải thời gian lâu không đổi thay, như vậy khả dĩ thành tựu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Về Tông môn chủ trương tham thiền, tham thiền cốt “Minh tâm kiến tánh”, cần tham suốt được cái “bản lai diện mục của mình”, nên nói: “Giác ngộ tự tâm, thấy suốt bản tánh”.
Pháp môn này phát nguyên từ hội Linh Sơn, Phật đưa cành hoa sen, ngài Ca Diếp cười chúm chím, đến Tổ sư Đạt-ma truyền sang Trung Hoa, về sau chỗ hạ thủ công phu đã từng thay đổi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Các bậc Thiền đức trước đời Đường, đời Tống phần nhiều nghe một lời, hoặc nửa câu được ngộ đạo.
Thầy trò truyền nhau chẳng qua dùng tâm ấn tâm, không có một thật pháp.
Ngày thường thưa hỏi, trả lời cũng chẳng qua tùy cách phá chấp, theo bệnh cho thuốc mà thôi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Từ đời Tống về sau, người học đạo căn tánh yếu ớt cạn hẹp, nói được mà làm không được.
Ví như nói “buông hết tất cả”, “không nghĩ thiện ác”, thảy đều buông mà không hết, không nghĩ thiện thì nghĩ ác.
Đến thời đại này Tổ sư bất đắc dĩ dùng biện pháp lấy độc trừ độc, dạy người học tham công án hay khán thoại đầu.
Thậm chí thiết tha cắn chặt một câu “Tử thoại đầu”, dạy phải nghiến ngầm cấp bách không một sát-na lơi lỏng, giống như con chuột khoét rương cắn mãi một chỗ, chưa phủng thì không dừng.
Dạy như vậy, mục đích lấy một niệm trừ muôn niệm. Kỳ thật, đó cũng là một biện pháp bất đắc dĩ, như mụt nhọt độc trong thân, nếu không dùng dao mổ thì bệnh khó lành.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Công án của cổ nhân rất nhiều, sau này chuyên dạy khán thoại đầu, khán “Mang thây thúi ấy là gì?”, khán “Trước khi cha mẹ chưa sanh, thế nào là mặt thật xưa nay của ta?”.
Gần đây, các nơi phần nhiều dùng một câu thoại đầu khán “Niệm Phật là gì?”.
Kỳ thật, những câu thoại đầu đều cùng một loại, đều rất bình thường không có gì kỳ lạ đặc biệt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Có thể ta nói: khán “Niệm kinh là gì?”, khán “Trì chú là gì?”, khán “Lễ Phật là gì?”, khán “Đi đường là gì?”, khán “Ngủ mới thức là gì?”… đều cùng một loại như nhau.
Sau chữ gì là đáp án, nó vốn là tâm. Thoại (lời nói) từ tâm khởi, tâm là đầu của thoại.
Niệm từ tâm khởi, tâm là đầu của niệm. Muôn pháp đều từ tâm khởi, tâm là đầu của muôn pháp.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Kỳ thật, thoại đầu tức là niệm đầu, trước niệm chính là tâm. Nói thẳng, trước khi một niệm chưa sanh là thoại đầu.
Do đây, chúng ta biết khán thoại đầu tức là quán tâm. Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt thật xưa nay tức là tâm.
Khán trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt thật xưa nay là quán tâm. Tánh cũng tức là tâm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Câu “Phản văn văn tự tánh” (xoay cái nghe nghe tự tánh) là phản quán quán tự tâm.
Câu “Viên chiếu thanh tịnh giác tướng” (chiếu khắp tướng giác thanh tịnh), thanh tịnh giác tướng tức là tâm, chiếu tức là quán.
Tâm tức là Phật, niệm Phật tức là quán Phật, quán Phật tức là quán tâm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sở dĩ nói “khán thoại đầu” hoặc nói “khán niệm Phật là gì ”, đều là quán tâm, quán chiếu giác thể tự tâm thanh tịnh, là quán chiếu Phật tánh của mình.
Tâm tức là tánh, tức là giác, tức là Phật, không có hình tướng chỗ nơi, trọn không thể được, sẵn vậy thanh tịnh, khắp cả pháp giới, không ra không vào, không qua không lại, chính là xưa nay hiện thành Pháp thân Phật thanh tịnh.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hành nhân thu nhiếp lục căn “khán từ chỗ một niệm mới sanh”, soi xét một câu thoại đầu này, khán đến chỗ tự tâm thanh tịnh ly niệm.
Lại tiến lên, càng thầm kín dày dặc, lặng lẽ yên tịnh, tuy tịch mà chiếu, thẳng đó ngũ uẩn đều không, thân tâm đều vắng lặng, hoàn toàn không có một việc.
Từ đây ngày đêm đi đứng ngồi nằm như như không động, càng lâu công phu càng dày liền được thấy tánh thành Phật, vượt qua mọi khổ ách.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Xưa Tổ sư Cao Phong nói: “Người học đạo hay khán một câu thoại đầu, như gieo hòn gạch xuống hồ sâu muôn trượng, rơi thẳng tận đáy, được vậy trong bảy ngày, nếu không khai ngộ, Lão tăng xin dâng thủ cấp”.
Bạn đồng tham thiền! Câu nói của người xưa là chân ngữ, thật ngữ, không phải lời nói dối trá lừa đảo đâu!
Nhưng, tại sao người hiện thời khán thoại đầu rất nhiều, mà không có mấy người ngộ đạo?
Ấy là do người hiện thời căn cơ không bằng người xưa, cũng tại người học đạo đường lối tham thiền khán thoại đầu đa số không rành rõ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Có người tham đông hỏi tây, cầu nam thỉnh bắc, kết quả chỉ là loạn động đến già, một câu thoại đầu vẫn không rành rõ, không biết thế nào là thoại đầu thì làm sao khán thoại đầu?
Một đời chỉ chấp trước ngôn cú, danh tướng, dụng tâm tại thoại vĩ (đuôi lời nói) mà thôi.
Hoặc có người khán “Tham Phật là gì?”, hoặc “Chiếu cố thoại đầu”, khán qua khán lại, tham tới tham lui cùng câu thoại đầu đông tây chạy ngược nhau. Như vậy, làm sao hội ngộ được cái vô vi đại đạo bản nhiên này? Làm sao đến được cái vương vị tất cả không thọ? Hoặc có người bỏ mạt vàng vào con mắt, con mắt bị mù, làm sao được phóng quang sáng suốt? Đáng thương thay! Đáng thương thay! Có những người hảo tâm xuất gia chí nguyện phi phàm, mà kết quả chỉ một bề nhọc công vô ích, rất đáng thương xót!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người xưa nói: “Thà đành ngàn năm không ngộ, không cam một ngày sai lầm”.
Người tu hành ngộ đạo dễ mà khó, khó mà dễ, giống như vặn nút đèn điện, biết thì khoảng khảy móng tay đèn cháy sáng trưng, cái đen tối muôn năm liền hết, không biết thì vặn máy hỏng đèn hư, phiền não càng tăng trưởng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Có một ít người tham thiền khán thoại đầu bị ma phát điên, thổ huyết, mắc bệnh, bởi vì lửa vô minh quá to, chấp nhân ngã thật dày, đó là những gương rất rõ ràng.
Sở dĩ người dụng công cốt khéo điều hòa thân tâm, cần phải tâm bình khí hòa, không chướng ngại, không nhân ngã, đi đứng ngồi nằm khéo hợp với máy huyền diệu.Pháp tham thiền xưa nay không có phân biệt, chỉ do công phu tu tập, sơ tham có khó và dễ, lão tham cũng có khó và dễ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cái khó của người sơ tham là thế nào?&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Vì thân tâm không thuần thục, đường lối chưa rành rõ, dụng công không đến nơi, nếu trong tâm không chấp cấp bách thì bị bệnh ngủ gật qua ngày, kết quả thành: “năm đầu sơ tham, năm thứ hai lão tham, năm thứ ba không tham”.&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;p&gt;Cái dễ là sao?&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Chỉ cần đầy đủ tín tâm, tâm lâu bền và vô tâm. Tín tâm, một là tin tâm ta đây xưa nay là Phật, cùng chư Phật mười phương và chúng sanh không khác; hai là tin pháp của đức Phật Thích-ca Mâu-ni nói mỗi pháp đều được liễu sanh thoát tử và thành Phật đạo. Tâm lâu bền, phải tuyển chọn nhất định một pháp, trọn đời thực hành, cho đến đời sau và đời sau nữa đều như thế hành trì. Nếu là tham thiền thì cứ như thế mà tham, nếu niệm Phật thì cứ như thế mà niệm, nếu trì chú thì cứ như thế mà trì, nếu học giáo lý thì cứ từ văn, tư, tu mà thực hành.&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;p&gt;Dù tu một pháp môn nào cũng lấy giới làm căn bản. Nếu đúng như vậy mà thực hành sau này nhất định thành công. Quy Sơn Lão nhân nói: “Nếu có người hay thực hành pháp này (tham thiền) ba đời không lui sụt, quả vị Phật quyết định có ngày”. Vĩnh Gia Lão nhân nói: “Nếu dùng vọng ngữ lừa chúng sanh, hằng đọa địa ngục Bạt Thiệt số kiếp như cát bụi”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vô tâm chính là buông hết tất cả, giống hệt như người chết, trọn ngày tùy chúng làm việc mà không khởi một điểm phân biệt chấp trước, thành một vị đạo nhân vô tâm. Người sơ tham đầy đủ ba tâm ấy rồi, nếu tham thiền khán thoại đầu, nên khán “Niệm Phật là gì?”. Ông tự thầm niệm ít tiếng “A Di Đà Phật”, khán cái niệm Phật đó là gì? Một niệm ấy từ chỗ nào phát khởi? Nên biết, một niệm ấy không phải từ miệng ta khởi, cũng không phải từ thân thịt ta khởi. Nếu từ thân miệng ta khởi, khi ta chết rồi thân miệng vẫn còn sao không thể niệm? Phải biết, một niệm này là từ tâm ta khởi, tức từ chỗ tâm niệm khởi phải chăm chăm nhìn thẳng nơi đó, như mèo rình chuột, toàn thể tinh thần tập trung vào một chỗ này, không có niệm thứ hai. Chỉ cần giữ trung bình giữa hoãn và gấp, không cho gấp quá sẽ phát bệnh chướng. Đi đứng ngồi nằm đều giữ như vậy, lâu ngày công phu đầy đủ, thời tiết nhân duyên đến, một phen xúc chạm quả dưa chín cuống rụng bỗng nhiên đại ngộ. Khi ấy, như người uống nước lạnh nóng tự biết, thẳng đến chỗ không nghi ngờ, như thấy chữ Thập đầu đường đi thẳng về nhà gặp cha rất an vui.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cái khó dễ của người lão tham thế nào? - Lão tham là người đã gần gũi thiện tri thức, dụng công nhiều năm, đã trải qua một phen luyện lọc thân tâm thuần thục, đường lối rành rõ, dụng công một cách tự tại không thấy cay đắng. Cái khó của bậc Thượng tọa lão tham chính là dừng trụ trong chỗ tự tại sáng suốt, nghỉ trong Hóa thành không đến Bảo sở. Hay tịnh không hay động, không thể được cái chân thật thọ dụng; thậm chí gặp cảnh sanh tình thủ xả như xưa, ưa chán cũng hiện rõ. Vọng tưởng thô và tế vẫn nguyên vẹn bền chắc, chỗ dụng công như hòn đá ngâm nước lạnh không có tác dụng, lâu dần cũng sanh mỏi mệt, trọn không thể đắc quả khởi dụng. Thượng tọa lão tham! Biết được cái khốn khó này rồi, lập tức đề khởi câu thoại đầu cũ, phấn chấn tinh thần, đầu sào trăm trượng lại bước vượt lên, thẳng đến đảnh núi cao chót vót mà đứng, tận đáy biển sâu thăm thẳm mà đi, buông tay tung hoành, cùng gặp gỡ chư vị Phật Tổ, những cái khốn khó đâu còn, không dễ là gì?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thoại đầu tức là nhất tâm, cái nhất tâm này của chúng ta không phải ở trong, ngoài và chặng giữa, mà cũng ở trong, ngoài và chặng giữa, như hư không không động mà khắp tất cả chỗ. Sở dĩ thoại đầu không nên đem lên trên, cũng không nên đè xuống dưới. Đem lên trên thì dẫn khởi tán loạn, đè xuống dưới thì rơi vào hôn trầm, trái với tánh chất bản tâm, đều không phải là Trung đạo.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Các vị sợ vọng tưởng, cho hàng phục vọng tưởng là rất khó khăn. Tôi xin thưa quí vị, không nên sợ vọng tưởng cũng không cần phí sức hàng phục vọng tưởng. Các vị chỉ cần nhận ra vọng tưởng, không chấp trước nó, không tùy thuận nó, cũng chẳng cần xua đuổi nó, chỉ không cho tiếp tục thì vọng tưởng tự lìa. Nên nói: “Vọng khởi liền biết, biết vọng liền lìa”. Nếu khéo lợi dụng vọng tưởng khởi công phu, khán “Vọng tưởng này từ chỗ nào phát sanh?”. Vọng tưởng không tánh chính nó là không, tức là tâm tánh vốn không của ta, tự tánh thanh tịnh pháp thân Phật ngay đây được hiện tiền. Xét thật mà nói, chân vọng một thể, chúng sanh và Phật không hai, sanh tử Niết-bàn, phiền não Bồ-đề đều là bản tâm bản tánh, không cần phân biệt, không cần ưa chán, không cần thủ xả. Tâm thanh tịnh này xưa nay là Phật, không nhận một pháp, làm gì có nhiều mối? Tham!&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;THIỀN ĐƯỜNG CHỈ DẠY&lt;a href=&quot;#thiền-đường-chỉ-dạy&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;h3&gt;A. DẪN LỜI DẠY&lt;a href=&quot;#a-dẫn-lời-dạy&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h3&gt;
&lt;p&gt;Chư vị hằng ngày đến thỉnh tôi chỉ dạy khiến tôi rất hổ thẹn. Chư vị ngày ngày nhọc nhằn cuốc đất, bửa củi, gánh gạch làm việc quên cả sớm chiều, mà vẫn không quên tâm niệm cầu giải thoát. Hạt giống thiết tha vì đạo ấy khiến mọi người đều cảm động. Hư Vân này hổ thẹn không đạo không đức, nói không đến đâu lấy gì chỉ dạy, chỉ lượm lặt những lời dạy của cổ nhân để đáp lại lời khẩn cầu của chư vị mà thôi.&lt;/p&gt;
&lt;h3&gt;B. PHƯƠNG PHÁP NHẬP MÔN DỤNG CÔNG&lt;a href=&quot;#b-phương-pháp-nhập-môn-dụng-công&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h3&gt;
&lt;p&gt;Phương pháp dụng công tu hành rất nhiều, hiện tại chỉ tóm lược chỉ bày:&lt;/p&gt;
&lt;h4&gt;1. ĐIỀU KIỆN QUYẾT ĐỊNH TRƯỚC KHI TU TẬP&lt;a href=&quot;#1-điều-kiện-quyết-định-trước-khi-tu-tập&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h4&gt;
&lt;h5&gt;a) Tin sâu nhân quả&lt;a href=&quot;#a-tin-sâu-nhân-quả&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h5&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Không luận người nào, nếu muốn dụng công tu tập trước cần phải tin sâu nhân quả. Nếu không tin nhân quả, thực hành càn bướng, không những tu hành chẳng thành công mà tam đồ cũng khó tránh. Cổ đức nói: “Muốn biết nhân đời trước hãy xem sự lãnh thọ của đời này, muốn biết quả đời sau hãy nhìn sự gây tạo hiện tại”. Lại nói: “Giả sử đã tạo nghiệp trăm ngàn kiếp vẫn không mất, khi nhân duyên hội ngộ quả báo trở lại tự chịu”.   Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhân địa không ngay, quả báo cong vạy”. Cho nên gieo nhân lành kết quả lành, gieo nhân ác gặt quả ác, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu là đạo lý tất nhiên vậy.Nói đến nhân quả tôi xin thuật hai câu chuyện xưa để chứng minh:&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;h6&gt;Chuyện vua Lưu Ly giết dòng họ Thích&lt;a href=&quot;#chuyện-vua-lưu-ly-giết-dòng-họ-thích&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h6&gt;
&lt;p&gt;Trước đức Phật Thích-ca ra đời, trong thành Ca-tỳ-la-vệ có một làng chài lưới, trong làng có cái hồ to. Khi ấy, trời hạn nước cạn, bao nhiêu cá trong ao bị người làng bắt ăn hết, sau cùng còn lại một con cá thật to cũng bị người làm thịt luôn. Trong làng chỉ có một đứa bé lâu nay không ăn thịt cá, hôm ấy đến thấy con cá to lấy cây gõ trên đầu nó ba cái rồi đi. Sau này khi đức Thích-ca ra đời, vua Ba-tư-nặc rất kính tin Phật pháp, cưới con gái dòng họ Thích làm vợ, sanh được một Thái tử đặt tên Lưu Ly. Lúc thơ ấu, Lưu Ly ở bên ngoại tại thành Ca-tỳ-la-vệ học, một hôm nhân giỡn chơi trèo lên tòa của Phật ngồi, bị người họ Thích rầy mắng kéo lôi xuống, nên ôm lòng uất hận. Đến khi Lưu Ly lên làm vua, xuất đại binh đánh thành Ca-tỳ-la-vệ, bắt hết dân cư trong thành giết sạch, chính khi ấy đức Thích-ca nhức đầu ba ngày. Các vị đệ tử lớn của Phật cầu xin Phật tìm cách giải cứu dòng họ Thích. Phật nói: “Định nghiệp khó chuyển”. Tôn giả Mục Liên dùng sức thần thông lấy bình bát đến thâu năm trăm người dòng Thích-ca đem để trên không trung; khi giặc qua, Ngài đem xuống thả ra, không ngờ khi trút bát thấy tất cả đều biến thành máu. Các đệ tử lớn đến thưa hỏi Phật, Phật đem việc xưa dân trong làng ăn cá thuật lại: Con cá lớn ngày xưa là vua Lưu Ly hiện nay, quân đội của vua Lưu Ly đều là những con cá nhỏ trong hồ. Dân cư trong thành Ca-tỳ-la-vệ bị giết đều là người ăn cá ngày xưa. Thân Phật chính là đứa bé gõ đầu cá ba cái ngày xưa, nên hiện tại bị quả báo nhức đầu ba ngày. Vì định nghiệp khó tránh nên năm trăm người dòng họ Thích tuy được Tôn giả Mục Liên cứu thoát, cũng không bảo tồn được tánh mạng. Sau này vua Lưu Ly bị đọa địa ngục. Oan oan tương báo không biết bao giờ hết được. Nhân quả thật đáng sợ vậy.&lt;/p&gt;
&lt;h6&gt;Chuyện ngài Bá Trượng độ Hồ Ly&lt;a href=&quot;#chuyện-ngài-bá-trượng-độ-hồ-ly&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h6&gt;
&lt;p&gt;Bá Trượng Lão nhân một hôm vào nhà giảng, giảng xong các thính giả ra hết, chỉ còn lại một ông già không lui đi. Ngài Bá Trượng hỏi: “Ông còn muốn hỏi gì?”. Ông ấy thưa: “Con là Dã hồ tinh không phải là người, đời trước con vốn làm Đường đầu (Trụ trì) ở đây, nhân có người học, hỏi con: ‘Bậc đại tu hành lại rơi vào luật nhân quả chăng?’. Con đáp: ‘Không rơi nhân quả’. Do đó con bị đọa lạc làm Dã hồ tinh đã năm trăm năm, không có cách nào thoát thân, mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy cho!”. Ngài Bá Trượng bảo: “Ngươi hỏi lại ta”. Ông ấy bèn hỏi: “Bạch Hòa thượng! Bậc đại tu hành lại rơi vào nhân quả chăng?”. Tổ Bá Trượng đáp: “Không lầm nhân quả”. Ông già nghe câu này liền đại ngộ. Ông lễ tạ thưa: “Nay nương lời đáp thay của Hòa thượng khiến con siêu thoát thân Dã hồ, con ở hang sau núi, mong Hòa thượng lấy lễ tống táng theo nhà sư cho con”. Hôm sau, Tổ Bá Trượng lại hang sau núi, lấy gậy bới ra có xác con hồ tinh, bèn dùng lễ theo nhà sư mà an táng. Chúng ta nghe hai câu chuyện xưa này càng biết rõ nhân quả đáng sợ, tuy thành Phật vẫn khó khỏi quả báo nhức đầu. Sự báo ứng một mảy may không sai lạc, định nghiệp thật khó trốn tránh. Chúng ta gắng cẩn thận, gắng dè dặt chớ có gây nhân.&lt;/p&gt;
&lt;h5&gt;b) Nghiêm trì giới luật&lt;a href=&quot;#b-nghiêm-trì-giới-luật&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h5&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Dụng công tu hành trước nhất phải trì giới. Giới là cội gốc quả vô thượng Bồ-đề, nhân giới sanh định, nhân định phát tuệ, nếu không trì giới mà tu hành thì không thể được. Trong kinh Lăng Nghiêm dạy rõ bốn món thanh tịnh, dạy chúng ta rằng: “Không trì giới mà tu chánh định không thể thoát khỏi trần lao, dù hiện tiền có nhiều trí tuệ, nhiều thiền định cũng rơi vào tà ma ngoại đạo”. Đó nên biết, trì giới là trọng yếu, người trì giới Long Thiên ủng hộ, ma ngoại kính sợ. Người phá giới, bọn quỉ gọi là giặc lớn, nó quét dấu chân của người ấy. Ngày xưa tại nước Kế Tân, gần bên đất già lam có một con độc long thường khi ra nhiễu hại dân chúng địa phương. Có năm trăm vị A-la-hán nhóm họp một chỗ dùng sức thiền định đuổi nó đi, rốt cuộc không hiệu quả gì cả. Sau có một vị Tăng, không cần nhập thiền định chỉ đến gần con độc long nói một câu: “Hiền thiện ! Hãy tránh xa chỗ này đi”. Con độc long liền đi mất. Các vị A-la-hán hỏi vị Tăng ấy: “Ông dùng thần thông gì đuổi được con độc long?”. Vị Tăng đáp: “Tôi không dùng sức thiền định, chỉ do cẩn thận đối với giới, gìn giữ giới khinh cũng như giới trọng”. Chúng ta tưởng tượng sức thiền định của năm trăm vị La-hán mà không bằng một vị Tăng nghiêm trì giới luật.Hoặc có người bảo: “Lục Tổ nói tâm bình đâu cần trì giới, hạnh thẳng nào dụng tham thiền”. Tôi xin hỏi ông: Tâm ông đã bình, hạnh ông đã thẳng chưa? Giả sử có người con gái đẹp lõa thể đến ôm ông, ông có thể không động tâm chăng? Có người vô lý mạ nhục đánh đập ông, ông có thể không sanh tâm sân hận chăng? Ông đã đạt được chỗ không phân biệt oán thân, thương ghét, nhân ngã, phải quấy chưa? Cẩn thận khi làm được mới nói những lời to ấy, nếu làm không được mà nói chỉ là nói suông.&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;h5&gt;c) Tín tâm kiên cố&lt;a href=&quot;#c-tín-tâm-kiên-cố&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h5&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Có ý dụng công tu tập trước cần phải có lòng tin bền chặt. Lòng tin là đầu của Đạo, là mẹ các công đức. Bất luận làm việc gì không có lòng tin thì làm không xong. Chúng ta cốt liễu thoát sanh tử, điều cần thiết phải có lòng tin bền chặt. Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai, chỉ do vọng tưởng chấp trước không thể chứng được”. Phật lại dạy các thứ pháp môn để đối trị tâm bệnh của chúng sanh. Chúng ta nên tin lời Phật nói không hư dối, tin chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Sở dĩ chúng ta chưa được thành Phật, đều do chưa triệt để dụng công đúng như pháp mà thôi. Ví như chúng ta tin đậu nành làm đậu hũ được, nếu ta không ra công nấu đậu hũ thì đậu nành tự nó không thể biến thành đậu hũ. Nếu chúng ta đi nấu đậu hũ mà để thạch cao không đúng lượng, đậu hũ cũng không thể thành. Nếu ta nấu đúng pháp, để thạch cao đúng lượng quyết định sẽ thành đậu hũ. Người tu hành cũng như thế, không dụng công tu tập cố nhiên không thành Phật, dụng công không đúng pháp Phật cũng không thể thành. Nếu người tu tập đúng pháp, không lui không hối, quyết định người này sẽ thành Phật. Cho nên, chúng ta phải tin sâu chính mình xưa nay là Phật; lại tin sâu y giáo pháp Phật dạy tu hành quyết định thành Phật. Vĩnh Gia Thiền sư nói: “Chứng thật tướng không nhân pháp, sát-na diệt hết nghiệp A-tỳ, nếu dùng lời vọng dối chúng sanh, tự chuốc địa ngục (Bạt Thiệt) trần sa kiếp”. Ngài Vĩnh Gia vì lòng từ bi, cốt định chắc lòng tin cho người đời sau, nên phát lời thệ rộng lớn như vậy.&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;h5&gt;d) Quyết định pháp môn tu hành&lt;a href=&quot;#d-quyết-định-pháp-môn-tu-hành&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h5&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Lòng tin đã đủ, lại nên chọn một pháp môn để tu trì, cần phải không được sớm Tần chiều Sở. Bất luận niệm Phật cũng tốt, trì chú cũng tốt, tham thiền cũng tốt, điều cần thiết là nhận định một pháp môn thẳng đó tiến tu hằng không lui sụt. Ngày nay chưa thành công, ngày mai vẫn tiến hành như thế; năm nay chưa thành công, năm tới vẫn tiến hành như thế; đời này chưa thành công, đời sau vẫn tiến hành như thế. Quy Sơn Lão nhân nói: “Đời đời nếu không lui sụt, quả Phật quyết định có ngày”. Có một số người làm mà không chú ý quyết định, ngày nay nghe vị thiện tri thức này nói niệm Phật hay, liền niệm Phật được vài ngày; ngày mai nghe vị thiện tri thức kia nói tham thiền hay, lại tham thiền vài ngày, sang đông tìm tây, một đời kiếm tìm đến chết mà không được một chút kết quả, rất uổng thay!&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;h4&gt;2. PHƯƠNG PHÁP THAM THIỀN&lt;a href=&quot;#2-phương-pháp-tham-thiền&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h4&gt;
&lt;p&gt;Pháp môn dụng công tuy nhiều mà chư Phật, Tổ sư đều cho tham thiền là vô thượng diệu môn. Trên hội Lăng Nghiêm Phật dạy Bồ-tát Văn Thù chọn môn viên thông, ngài Văn Thù chọn môn nhĩ căn viên thông của Bồ-tát Quán Thế Âm là bậc nhất hơn cả. Chúng ta cần “Phản văn văn tự tánh” (xoay cái nghe nghe tự tánh) chính là tham thiền. Trong thiền đường này cũng nên giảng một pháp tham thiền.&lt;/p&gt;
&lt;h5&gt;a) Tọa thiền nên biết&lt;a href=&quot;#a-tọa-thiền-nên-biết&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h5&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Bình thường nhật dụng đều là hành đạo, như vậy chỗ nào không phải là đạo tràng, cần gì thiết lập thiền đường, cũng không phải tọa thiền mới là thiền. Nói thiền đường, nói tọa thiền chẳng qua vì chúng ta là chúng sanh trong thời mạt pháp chướng sâu, tuệ cạn mà tạm thiết lập.Tọa thiền cần hiểu rõ cách điều dưỡng thân tâm. Nếu không khéo điều, hại nhỏ là sanh bệnh, hại to là bị ma, thật đáng tiếc vậy. Trong thiền đường đi kinh hành, hoặc tọa thiền chỗ dụng ý chính là điều thân tâm. Phương pháp điều thân tâm rất nhiều, nay chọn lọc những điều cần yếu lược nói&lt;div&gt;&lt;/div&gt; ngồi kiết già phải theo thứ tự, giữ tự nhiên và ngồi ngay thẳng. Không được để ý ễnh lưng thẳng lên, nếu ễnh thẳng lưng hơi nóng xông lên tụ lại lâu ngày, con mắt sanh nhiều ghèn, miệng hôi, đầu nóng, không muốn ăn uống, quá lắm đến thổ huyết. Lại không được để lưng cong đầu cúi nhiều, nếu vậy dễ sanh hôn trầm. Như biết khi hôn trầm tới, mở mắt to ra, ễnh lưng một cái và động nhẹ nhẹ hai bên hông, hôn trầm tự nhiên tiêu diệt. Nếu dụng công cấp bách quá, khi nghe trong lòng bứt rứt nên bỏ hết mọi việc và xả luôn cả dụng công, dừng nghỉ độ năm mười phút, dần dần thư thái, nhiên hậu đề khởi dụng công. Nếu không như vậy, dồn chứa lâu ngày biến thành tánh nóng nảy dễ sân, thậm chí phát cuồng bị ma.Tọa thiền khi có chút thọ dụng (thấy cảnh giới lạ) cảnh giới phát hiện rất nhiều nói không thể hết, chỉ ta không chấp trước cảnh giới ấy thì nó không làm ngại ta được. Lời tục nói: “Thấy quái ta không quái, quái tự mất”. Trông thấy yêu ma quỉ quái đến nhiễu hại ta, ta không cần quan tâm đến nó, cũng không sợ nó hại. Chính thấy đức Phật Thích-ca đến rờ đầu thọ ký, ta cũng không quan tâm đến, chẳng nên sanh vui mừng. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Không khởi tâm cho mình chứng Thánh, là cảnh giới lành, khởi tâm cho mình chứng Thánh, tức lạc quần tà”.&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;h5&gt;b) Hạ thủ công phu - biết chủ khách&lt;a href=&quot;#b-hạ-thủ-công-phu---biết-chủ-khách&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h5&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Hạ thủ công phu thế nào ư? Trên hội Lăng Nghiêm ngài Kiều Trần Như nói hai chữ Khách Trần, chính là chỗ sơ tâm chúng ta hạ thủ công phu vậy. Ngài nói: “Ví như người hành khách dừng nghỉ nơi quán trọ, hoặc ngủ hoặc ăn, ăn ngủ xong gói hành lý ra đi, đi không trở về nghỉ lại. Nếu thật người chủ thì không đi đâu. Như thế suy xét, không ở lại gọi là khách, ở lại gọi là chủ. Bởi không ở lại nên nghĩa là khách. Lại như buổi sáng trời tạnh, mặt trời vượt lên, ánh sáng soi qua các kẽ hở, soi rõ các vi trần trong hư không, vi trần diêu động, hư không yên lặng. Yên lặng là Không, diêu động là nghĩa Trần”. Khách và trần dụ vọng tưởng, chủ và hư không dụ tự tánh. Người chủ thì thường ở, không phải như khách hoặc đi hoặc đến, đó là dụ tự tánh thường trụ vốn không theo vọng tưởng chợt sanh chợt diệt. Nên nói: “Chỉ tự vô tâm với vạn vật, ngại gì vạn vật thường nhiễu loạn”. Tính chất vi trần tự diêu động vẫn không làm ngại được cái yên lặng của hư không. Dụ vọng tưởng tánh nó sanh diệt vẫn không làm ngại được tự tánh như như bất động. Nên nói: “Một tâm không sanh, muôn pháp chẳng lỗi lầm”.Trong đây chữ Khách so phần thô, chữ Trần so phần tế. Người mới phát tâm trước nhận rõ Chủ và Khách, tự không bị nó kéo lôi; tiến lên nhận rõ ràng Không và Trần, vọng tưởng không thể làm chướng ngại. Nên nói: “Biết được, không phải oán”. Người hay xét kỹ lãnh hội được chỗ này, sự dụng công tu hành rất chóng tiến.&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;h5&gt;c) Thoại đầu cùng nghi tình&lt;a href=&quot;#c-thoại-đầu-cùng-nghi-tình&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h5&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Thời xưa Tổ sư chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật. Như cách an tâm của Tổ Đạt-ma, lối bàn kiến tánh của Lục Tổ, chỉ cần thẳng đó thừa nhận là xong, không có khán thoại đầu. Đến các Tổ sư sau này thấy tâm người không bằng cổ nhân, không thể tử tâm như khối đất, mà luôn tráo trở lăng xăng, mọi người chỉ đếm của báu cho kẻ khác mà lầm nhận là của mình. Bởi thế nên các Ngài riêng lập môn đình (cảnh riêng) và mỗi vị chỉ ra một phương pháp, do đó mới dạy người học khán thoại đầu.Thoại đầu rất nhiều, như: “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?” hay “Trước khi cha mẹ chưa sanh, thế nào là mặt thật của ta?” v.v… nhưng phổ thông hơn cả là câu “Niệm Phật là gì?”.Thế nào là thoại đầu? Thoại là lời nói, trước lời nói là đầu. Như niệm A Di Đà Phật là thoại, trước khi chưa niệm là thoại đầu. Nên nói thoại đầu là cái mé chưa sanh một niệm. Một niệm vừa sanh đã thành thoại vĩ (đuôi lời nói). Cái mé chưa sanh một niệm đó gọi là “không sanh”; không loạn động, không mê muội, không đắm nơi tịnh, không rơi vào không, gọi là “không diệt”. Luôn luôn chăm chú trở lại chiếu soi cái “không sanh không diệt” ấy, gọi là “khán thoại đầu” hoặc “chiếu cố thoại đầu”.Khán thoại đầu trước cần phải khởi nghi tình, đó là chỗ nương nhờ của pháp khán thoại đầu. Sao gọi là nghi tình? Như hỏi niệm Phật là gì? Người người đều biết chính mình niệm. Nhưng là miệng niệm hay tâm niệm? Nếu thật miệng niệm, khi ngủ mê vẫn có miệng sao không niệm? Nếu thật tâm niệm, tâm hình dáng thế nào, lại không có chỗ nơi sờ mó? Nhân chỗ không rõ này, trên chữ gì phát khởi niệm nghi nhẹ nhàng tế nhị, không cho thô, càng tế càng tốt. Tùy thời tùy chỗ chăm chú chiếu cố quyết chí nơi niệm nghi này, giống như dòng nước không có chỗ đoạn, không sanh hai niệm. Nếu niệm nghi còn thì không cần để ý đến nó, niệm nghi nếu mất lại nhẹ nhàng đề khởi lên. Khi mới dụng tâm thì trong tịnh, trong động so sánh rất đắc lực. Nhưng cốt không sanh tâm phân biệt, không quan tâm đến đắc lực hay không đắc lực, không chú ý trong động hay trong tịnh, ta chỉ nhất tâm, nhất ý dụng công là tốt.
Bốn chữ Niệm Phật là gì, rất quan trọng tại chữgì, ngoài ra ba chữ kia chẳng qua là để nói cho to mà thôi. Như “mặc áo, ăn cơm là gì?”, “đại tiểu tiện là gì?”, “phá vô minh là gì?”, “hay hiểu biết là gì?”, bất luận đi đứng ngồi nằm một khi đề chữ gì lên là dễ phát niệm nghi, không cần suy nghĩ xét nét để ý mới có. Cho nên chữ gì trong câu thoại đầu thật tại là một diệu pháp của tham thiền. Nhưng không phải đem một chữ gì, hoặc bốn chữ niệm Phật là gì coi như danh hiệu Phật mà niệm; cũng không phải suy nghĩ xét nét câu niệm Phật là gì mà cho là nghi tình. Có một số người đem bốn chữ niệm Phật là gì ra niệm suốt ngày không dừng miệng, như thế chi bằng niệm A Di Đà Phật công đức còn hơn. Có một số người nghĩ quanh tính quẩn, tìm đông kiếm tây cho đó là nghi tình, đâu biết rằng càng nghĩ càng tính vọng tưởng càng nhiều, giống như người muốn lên lại bị rơi xuống, cần phải biết vậy.&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;p&gt;Người sơ tâm phát niệm nghi rất thô, chợt dứt chợt nối, chợt chín chợt sống, đều không được nghi tình, chỉ gọi là Tưởng. Lần lần thu nhiếp được tâm cuồng loạn, niệm đầu cũng kềm giữ được chút ít, mới gọi là Tham. Lại tiến dần dần công phu thuần thục không nghi mà tự nghi, không biết mình đang ngồi ở chỗ nào, cũng không biết có thân tâm thế giới, chỉ riêng niệm nghi hiện tiền không gián đoạn, đó gọi là nghi tình. Thật tế mà nói, lúc đầu chưa kể là dụng công chỉ đả phá vọng tưởng, đến khi chân nghi hiện tiền mới là giai đoạn chân chánh dụng công. Giai đoạn này như qua cửa ải lớn rất dễ vào đường tẽ.Giai đoạn này rất thanh tịnh và vô hạn khinh an, nếu mất một ít giác chiếu bèn rơi vào trạng thái mê muội nhẹ nhàng. Nếu khi ấy có bậc sáng suốt ở bên, một phen nhìn qua liền biết người ấy đang mắc tại cảnh giới này, lấy một hương bản đập xuống, lập tức đầy trời mây mù tan hết, rất nhiều người nhân đây được ngộ đạo.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chính khi rất thanh tịnh rỗng rang ấy, nếu nghi tình không còn bèn rơi vào vô ký, ngồi như cây như đá, hoặc gọi hòn đá ngâm nước lạnh. Đến khi đó cần phải đề khởi, đề khởi tức là giác chiếu (giác là không mê, tức là tuệ; chiếu là không loạn, tức là định) chăm chú một niệm ấy, lặng lẽ chiếu soi, như như không động, sáng sủa không mê, rành rõ thường biết, như lạnh nóng rút hơi, một mạch liên tục không dứt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Dụng công đến chỗ này cần có con mắt Kim cang không đề khởi thêm, nếu đề khởi thì đã đầu lại thêm đầu. Xưa có vị tăng hỏi Triệu Châu Lão nhân rằng: “Một vật khi không đem đến làm thế nào?”. Châu đáp: “Buông hết đi!”. Tăng thưa: “Một vật không đem đến, buông hết cái gì?”. Châu bảo: “Buông không xuống thì gánh lên!”. Chính là nói giai đoạn này vậy. Trong cảnh sáng sủa mát mẻ này như người uống nước lạnh nóng tự biết, không phải nói năng có thể đến được. Người đến chỗ này tự nhiên sáng suốt, người chưa đến được có nói cũng vô ích. Nên nói: “Trên đường gặp kiếm khách nên trình kiếm, không phải nhà thơ chớ tặng thơ”.&lt;/p&gt;
&lt;h5&gt;d) Chiếu cố thoại đầu cùng phản văn văn tự tánh&lt;a href=&quot;#d-chiếu-cố-thoại-đầu-cùng-phản-văn-văn-tự-tánh&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h5&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Hoặc có người hỏi: “Câu phản văn văn tự tánh của Bồ-tát Quán Thế Âm sao được gọi là tham thiền?” - Tôi mới nói chiếu cố thoại đầu chính là dạy ông luôn luôn chăm chú một niệm hồi quang phản chiếu cái “không sanh không diệt” (thoại đầu). Phản văn văn tự tánh cũng là dạy ông luôn luôn chăm chú một niệm phản văn văn tự tánh. Hồi chính là Phản, không sanh không diệt là Tự tánh. Văn và chiếu, tuy lúc xuôi dòng theo thinh theo sắc, nghe không ra ngoài tiếng, thấy không vượt khỏi sắc, phân biệt rõ ràng; nhưng khi ngược dòng trở lại quán tự tánh không chạy theo thinh sắc, chính là một cái tinh minh, Văn và Chiếu đâu phải hai thứ. Chúng ta cần biết, nói rằng “Chiếu cố thoại đầu”, “Phản văn tự tánh” tuyệt đối không phải dùng mắt xem, dùng tai nghe. Nếu dùng mắt xem, hoặc dùng tai nghe, ấy là đã chạy theo thinh sắc, bị vật chuyển gọi là xuôi dòng. Nếu chăm chú trong một niệm “không sanh không diệt”, không đuổi theo thinh sắc, gọi là ngược dòng. Ấy là “Chiếu cố thoại đầu”, cũng là “Phản văn tự tánh”.&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;h5&gt;e) Tâm thiết tha vì sanh tử cùng phát tâm lâu dài&lt;a href=&quot;#e-tâm-thiết-tha-vì-sanh-tử-cùng-phát-tâm-lâu-dài&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h5&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Tham thiền rất cần tâm thiết tha vì sanh tử và phát tâm lâu dài. Nếu đối với sự sanh tử không thiết tha thì nghi tình không phát, công phu khó đạt. Nếu không phát tâm lâu dài, một nóng mười lạnh thì công phu cũng không thành phiến. Chỉ cần có tâm thiết tha lâu dài thì chân nghi mới phát. Khi chân nghi phát thì trần lao phiền não không dứt cũng tự dứt. Khi thời tiết nhân duyên đến tự nhiên nước tụ thành ngòi.
Tôi xin thuật lại một việc cũ chính mắt tôi thấy cho các ông nghe. Lúc trước, đời Thanh khoảng năm Canh Tý, Liên quân tám nước vào kinh đô, tôi theo chân vua Quang Tự và Từ Hy Thái hậu chạy giặc. Giữa đường gặp một đoạn phải chạy bộ về Thiểm Tây, mỗi ngày chạy mấy mươi cây số, luôn mấy ngày không có cơm. Trên đường gặp một ông già đem dâng vua Quang Tự một miếng khoai rừng, ăn xong vua hỏi người ấy: “Thứ gì ăn ngon lắm vậy?” Các ông thử tưởng, Hoàng đế ngày thường rất kiểu cách, rất oai phong, đâu từng đi bộ hơn mấy bước, chưa từng đói quá nửa bụng, chưa từng ăn hết một miếng khoai rừng. Đến lúc này, kiểu cách chẳng có, oai phong không còn, lội bộ cũng được, bụng đói cũng chịu, ăn rễ rau cũng ngon. Vì sao mà ông bỏ hết được? - Vì Liên quân đuổi bắt ông, ông nhất tâm chạy chết. Đến sau được nghị hòa, ông ngự giá về kinh, kiểu cách lại khởi, oai phong lại hiện, đi bộ không nổi, bụng đói không được, cái gì không ngon thì nuốt không trôi. Sở dĩ thế, tại khi này ông buông không hết, vì Liên quân không còn đuổi bắt ông, ông không có tâm chạy chết. Giả sử ông thường đem cái tâm chạy chết ấy mà tu hành thì thế nào không thành công; đáng tiếc ông không có tâm lâu dài, gặp thuận cảnh thái độ cũ lại bộc khởi.
Các vị đồng tham thiền! Bọn quỉ vô thường luôn luôn theo đuổi sanh mạng chúng ta, không bao giờ chúng chịu “nghị hòa”. Chúng ta cần phải phát tâm thiết tha lâu dài để giải thoát vòng sanh tử. Tổ Cao Phong Diệu nói: “Người tham thiền cần yếu khắc định ngày thành công, giống như người rơi xuống giếng sâu ngàn trượng từ sáng đến chiều, từ chiều đến sáng muôn ngàn tư tưởng chỉ chăm chăm một việc mong ra khỏi giếng, trọn không có niệm thứ hai. Người thực hành được như vậy, hoặc ba ngày, năm ngày, bảy ngày, nếu không triệt ngộ, Cao Phong ngày nay phạm tội đại vọng ngữ hằng đọa trong địa ngục Bạt Thiệt”. Cao Phong Lão nhân vì lòng đại bi thiết tha sợ e chúng ta không phát tâm tha thiết lâu dài, nên phát lời thề nặng này để bảo chứng cho chúng ta.&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;h5&gt;g) Dụng công có hai thứ khó và dễ&lt;a href=&quot;#g-dụng-công-có-hai-thứ-khó-và-dễ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h5&gt;
&lt;p&gt;Người dụng công có 2 thứ:&lt;/p&gt;
&lt;h6&gt;1. Sơ dụng tâm khó dễ&lt;a href=&quot;#1-sơ-dụng-tâm-khó-dễ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h6&gt;
&lt;p&gt;a- Sơ dụng tâm khó - Tâm trộm không chết&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cái thông bệnh của người sơ dụng tâm là vọng tưởng, tập khí buông không hết, vô minh, cao mạn, tật đố, chướng ngại, tham, sân, si, ái, lười biếng, ăn ngon, phải quấy, nhân ngã đầy dẫy trong bụng, làm sao tương ưng với đạo? Hoặc có người là công tử hay ca sĩ xuất gia tập khí không quên, một chút khổ nhọc chịu không nổi, một miếng không ngon nuốt chẳng vô, làm sao dụng công tu hành? Người này không chịu tưởng nhớ đức Bổn Sư Thích Ca là hạng nào đi xuất gia mà chịu khó khổ được như vậy? Hoặc có người biết chút ít văn tự bèn tầm chương trích cú đem những lời nói của cổ nhân ra phân tích, rồi cho mình là hiểu hoàn toàn sanh đại ngã mạn; nhưng đến khi bệnh nặng thì rên xiết suốt ngày, hoặc đến lúc sắp lâm chung thì tay co chân rút, bình sanh chỗ hiểu biết không thực hành được một điểm, đến khi hấp hối ăn năn sao kịp?
Hoặc người có chút đạo tâm lại không hiểu rõ chỗ hạ thủ công phu. Có người sợ vọng tưởng cố trừ mà trừ không được, trọn ngày buồn rầu bực tức tự hận nghiệp chướng nặng nề, nhân đó thối thất đạo tâm. Hoặc có người quyết cùng vọng tưởng chiến đấu, chăm bẳm chống tay xông hơi, ưỡn ngực trừng mắt giống vẻ mặt hầm hầm của tên giám sát, quyết cùng vọng tưởng một còn một mất, họ đâu biết như vậy, vọng tưởng đã đuổi không được, trở lại mang bệnh thổ huyết, phát cuồng. Hoặc có người sợ rơi vào không, đâu ngờ trước đã sanh ra quỉ; không vẫn là không chẳng động, ngộ lại ngộ chẳng đến. Hoặc có người khởi tâm cầu ngộ, ngờ đâu cầu ngộ đạo mong thành Phật đều là đại vọng tưởng; cát không phải là cơm, cầu đến bao nhiêu năm quyết định cũng không ngộ. Hoặc có người chợt được yên tịnh một vài cây hương bèn sanh vui mừng, ấy chỉ là con rùa đen mù tìm bọng cây, ngẫu nhiên đụng nhằm chẳng phải là công phu thật, ma vui mừng sớm đã nhập vào tâm vậy. Hoặc có người trong chỗ yên tịnh biết được thanh tịnh rất thích, trong chỗ động thì mất thanh tịnh, nhân đó tránh chỗ ồn náo tìm chỗ yên tịnh, ấy là đã sớm làm quyến thuộc của hai thứ ma vương động tịnh. Các người như vậy thật rất là nhiều. Kẻ sơ dụng tâm không thấu rõ đường lối tu tập thật là khó. Có giác mà không chiếu thì tán loạn không thể “đến nhà”. Có chiếu mà không giác lại “ngồi chết chìm trong nước chết”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;b- Sơ dụng tâm dễ&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;Buông xuống chỉ để một niệm. Dụng công tuy nói khó, nhưng hiểu rõ đường lối lại rất dễ. Tại sao sơ dụng tâm là dễ?&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;Không có gì khéo, buông hết liền được. Buông hết cái gì?&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;Buông hết tất cả vô minh phiền não. Làm sao buông hết được?&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;Chúng ta coi thân này như chết vậy. Ông thử chửi thây chết bao nhiêu câu, nó cũng không phát giận, đánh mấy gậy nó cũng không chống cự, lúc sống ưa phá vô minh bây giờ cũng không phá, lúc sống ưa danh lợi khi này cũng không màng, lúc sống nhiều thứ tập nhiễm khi này không có, cái gì cũng không phân biệt, cái gì cũng bỏ hết.&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;p&gt;Chư vị đồng tham thiền! Chúng ta mang xác thân này một phen hơi thở ra không trở lại bèn thành thây chết. Chúng ta sở dĩ buông không hết, chỉ do xem thân này là trọng, sanh nhân ngã phải quấy thương ghét thủ xả.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu nhận định thân này như thây chết, không quý trọng nó, không chấp nó là ngã thì có cái gì buông không hết? Chỉ cần buông được hết, trong hai mươi bốn giờ đi đứng ngồi nằm, động tịnh rảnh rang bận rộn, toàn thân trong ngoài chỉ là một niệm nghi, bình thản không dứt niệm nghi, không chen niệm nào khác.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Một câu thoại đầu như nương Ỹ Thiên trường kiếm, ma đến ma chết, Phật đến Phật chết, không sợ vọng tưởng thì có cái gì phá hại ta được? Có cái gì phân động phân tịnh, có cái gì chấp hữu chấp không? Như quả thật sợ vọng tưởng, ấy là chồng thêm một lớp vọng tưởng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Biết mình thanh tịnh, thế là đã không thanh tịnh. Sợ rơi vào không, chính đã rớt trong có. Tưởng thành Phật, đã vào đường ma. Nên nói: “Bửa củi gánh nước đâu không phải diệu đạo, cày ruộng cuốc đất đều là thiền cơ”. Không phải trong khi ngồi kiết già mới gọi là dụng công tu hành.&lt;/p&gt;
&lt;h6&gt;2. Lão dụng tâm khó dễ&lt;a href=&quot;#2-lão-dụng-tâm-khó-dễ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h6&gt;
&lt;p&gt;a- Lão dụng tâm khó - Đầu sào trăm thước không thể tiến bước&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;❓ Thế nào là lão dụng tâm khó?&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Lão dụng tâm đến giai đoạn chân nghi hiện tiền, có giác có chiếu vẫn thuộc sanh tử, không giác không chiếu lại rơi vào không vong, đến cảnh giới này thật là khó. Đa số người đến chỗ này vượt qua không khỏi, đứng trên đầu sào trăm thước không có cách nào tiến bước. Có một số người nhân đến cảnh giới này, trong định phát chút ít tuệ hiểu sơ lược một ít công án của cổ nhân, liền bỏ hết nghi tình, tự cho là đại triệt đại ngộ, ngâm thi vịnh phú, nhướng mày chớp mắt, xưng là thiện tri thức, thật không biết mình đã rơi vào bè đảng của ma. Lại có người hiểu lầm ý nghĩa câu của Đạt-ma Lão nhân nói: “Ngoài dứt các duyên, trong tâm không xao động, tâm như vách tường có thể vào đạo” và câu của Lục Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa”, bèn cho ngồi như cây như đá là hay tuyệt. Hạng người này cho Hóa thành là Bảo sở, nhận xứ người cho là quê hương, thật là chỗ Bà tử đốt am và mắng “Các ngươi là người chết”.&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;p&gt;b- Lão dụng tâm dễ - Cứ miên mật đi !&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;❓ Thế nào là lão dụng tâm dễ?&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Đến lúc này chỉ cần không tự mãn, không bỏ nửa chừng, thầm thầm kín kín dụng công, trong thầm kín lại thầm kín, trong vi tế lại vi tế, khi thời tiết đến đáy thùng tự bể (đại ngộ). Nếu không tự bể, nhờ thiện hữu tri thức nhổ đinh rút chốt cho.Đại sĩ Hàn Sơn có bài tụng:&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;blockquote&gt;  
&lt;p&gt;Chót vót trên đảnh núi,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bốn phía không mé bờ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngồi tịnh chả ai biết,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Suối lạnh vầng trăng soi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong suối vốn không trăng,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trời xanh trăng xa thẳm.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;Ngâm một bài ca này, Trong ca thiền chẳng có. Hai câu đầu nói cái chân thường bày hiện, không thuộc một cái gì, sáng chiếu khắp đại địa không một mảy chướng ngại. Bốn câu kế nói chân như diệu thể phàm phu hẳn không thể biết, ba đời chư Phật cũng tìm không được chỗ nơi của ta, nên nói: “chả ai biết”. Ba câu “Suối lạnh vầng trăng soi v.v…” là Lão nhân dùng phương tiện thí dụ cảnh giới ấy. Hai câu rốt sau, sợ người nhận lầm ngón tay là mặt trăng, nên đặc biệt cảnh giác chúng ta “phàm có nói năng không phải là thiền”.&lt;/p&gt;
&lt;h4&gt;3. KẾT LUẬN&lt;a href=&quot;#3-kết-luận&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h4&gt;
&lt;p&gt;Chính tôi mới nói ở trên cũng là gỡ rối chỉ đường mà thôi. Phàm có nói năng đều không phải thật nghĩa. Cổ đức tiếp độ người, nếu không đánh thì nạt, đâu có vẽ bày lăng xăng vầy.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chẳng qua người nay không thể sánh với người xưa, miễn cưỡng dùng tay chỉ mặt trăng. Chư vị đồng tham thiền! Cứu cánh ngón tay là gì? Mặt trăng là gì? Hãy tham đi!&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;LỜI NHẮC KHI THAM THIỀN&lt;a href=&quot;#lời-nhắc-khi-tham-thiền&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Tâm tức là Phật, Phật tức là giác. Một cái giác tánh này chúng sanh và Phật bình đẳng không sai biệt; rỗng lặng trọn không có một vật, không thọ một pháp, không thể tu chứng; sáng suốt mà đầy đủ muôn đức, diệu dụng hằng sa không nhờ tu chứng. Chỉ vì chúng sanh mê muội trầm luân sanh tử trải qua rất nhiều số kiếp, tham, sân, si, ái, vọng tưởng chấp trước nhiễm ô đã sâu dày, bất đắc dĩ mới nói tu nói chứng. Thế nên, nói “tu” cổ nhân cho là một việc chẳng lành, không cách nào hơn mới tạm dùng vậy thôi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thứ nói nhập thất. Quý vị nhập thất trải qua hai mươi mốt ngày. Trong hai mươi mốt ngày xét ra thân tâm có phần thuần thục, dụng công sánh với trước được dễ dàng. Quý vị cố gắng đừng để nhân duyên qua mất. Cần yếu trong hai mươi mốt ngày làm sao cho được nước rút đá lộ, phát minh tâm địa mới khỏi cô phụ cái cơ duyên khó gặp này.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hơn hai mươi ngày nay, quý vị từ sáng đến tối thức sớm ngủ trễ, nỗ lực dụng công, kết quả không ngoài 4 thứ cảnh giới:&lt;/p&gt;
&lt;ol&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;Có người đường lối không thông, câu thoại đầu khán không đến, mơ mơ màng màng theo chúng ngủ gật, không bị vọng tưởng lăng xăng thì bị hôn trầm lôi kéo.&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;Có người khán đến câu thoại đầu, có chút ít hiểu bèn chấp chặt, chỉ là nắm chết cứng hòn gạch gõ cửa, niệm chấp câu thoại đầu “Niệm Phật là gì?”, thành ra niệm thoại đầu, cho như thế là khởi nghi tình được khai ngộ. Đâu biết đó là dụng tâm tại thoại vĩ. Nó là pháp sanh diệt không thể đến được chỗ một niệm không sanh, tạm dùng còn khả dĩ, nếu chấp cho là cứu cánh thật pháp thì mong gì có ngày ngộ đạo? Gần đây trong thiền tông sở dĩ không có người đạt đạo, phần nhiều do lầm dụng tâm tại thoại vĩ.&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;Có người hiểu khán thoại đầu, hay chiếu cố đến hiện tiền một niệm không sanh. Hoặc hiểu niệm Phật là tâm, tức từ chỗ một niệm phát khởi này thẳng khán đến tâm tướng vô niệm. Theo dõi lần đến chỗ tịch tịnh, những vọng tưởng thô đã dứt, được khinh an, liền có các cảnh giới phát hiện. Hoặc không biết thân tâm mình đang ngồi chỗ nào. Hoặc biết thân được nhẹ nhàng có thể bay bổng lên trên. Hoặc thấy người, vật đẹp đáng yêu nên sanh tâm hoan hỷ. Hoặc thấy cảnh giới đáng sợ, khởi tâm kinh khủng. Hoặc khởi tâm dâm dục v.v… nhiều thứ không phải một, cần biết đó đều là ma, chấp nó bèn thành bệnh.&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;Có người nghiệp chướng nhẹ nhàng, đường lối rành rõ, dụng công đúng cách, tiến đúng phương pháp, tâm được thanh tịnh sáng suốt, tất cả vọng tưởng đều dứt, thân tâm tự tại không có cảnh giới nào khác. Đến chỗ này chấn khởi tinh thần theo đường lối trước dụng công, chỉ phải chú ý “cây khô trước hang nhiều lối tẽ”. Có khi đến chỗ này, rồi dừng trụ trong hôn trầm. Có khi đến chỗ này được chút ít tuệ giải, rồi làm thi làm văn, tự cho là đầy đủ, khởi cống cao ngã mạn.&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;/ol&gt;
&lt;p&gt;4 cảnh giới trên đều là bệnh, tôi sẽ chỉ quý vị phương thuốc đối trị.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;a) Như người câu thoại đầu khán không đến, nhiều vọng tưởng hôn trầm, ông nên khán lại chữ gì trong câu “Niệm Phật là gì?”. Khán đến khi nào vọng tưởng hôn trầm còn ít, chữ gì không quên, liền khán đến chỗ một niệm mới phát khởi. Ở đó đợi đến lúc một niệm không khởi tức là được không sanh. Hay khán đến một niệm không sanh, gọi là chân khán thoại đầu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;b) Người chấp chặt câu “Niệm Phật là gì?”, dụng tâm tại thoại vĩ, lấy pháp sanh diệt cho là phải, cũng nên theo ý tứ tôi đã chỉ ở trên, tức là nhắm chỗ một niệm phát khởi, khán đến một niệm không sanh.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;c) Người quán vô niệm đã được tịch tịnh khinh an mà gặp những cảnh giới khác lạ, ông nên chiếu cố câu thoại đầu cũ, một niệm không sanh, Phật đến Phật chết, ma đến ma chết, một bề không để ý đến, tự nhiên vô sự không rơi vào chúng tà.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;d) Người vọng niệm đã dứt, thanh tịnh sáng suốt thân tâm tự tại, nên như cổ nhân nói: “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?”. Do một bề tiến đến chỗ cùng cực, thẳng tiến lên ngọn núi cao chót vót đứng, xuống tận đáy biển sâu thăm thẳm đi, lại buông tay ngang dọc.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trở về trước đã nói, đều là đối với người độn căn trong thời mạt pháp mà chỉ phương pháp. Kỳ thật tông môn thượng thượng nhất thừa này chỉ thú do đức Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni ở trong hội Linh Sơn đưa cành hoa sen lên biểu thị là “Giáo ngoại biệt truyền”. Trải qua chư vị Tổ sư chỉ truyền tâm, chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật, không rơi vào giai cấp, không nhờ tu chứng. Trong một lời nói, hoặc nửa câu liền thấu rõ không một pháp có thể được, không một pháp có thể tu, liền đó không khởi vọng duyên tức là như như Phật, đâu cần học nhiều câu ư?&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;ĐÊM TRỪ TỊCH UỐNG PHỒ TRÀ DẠY CHÚNG&lt;a href=&quot;#đêm-trừ-tịch-uống-phồ-trà-dạy-chúng&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Chư vị Thượng tọa! Đêm nay là ba mươi tháng Chạp rồi, đại chúng đều nhận đã một năm qua, Thường trụ không có món gì ngon cúng dường, xin thỉnh chư vị uống một chung trà. Chiếu theo sách lịch một năm có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; mười hai tháng và hai mươi bốn tiết. Người đời hầu hết đều căn cứ theo thời tiết mà làm việc. Như nhà nông thì mùa xuân cày, mùa hạ bừa, mùa thu gieo, mùa đông gặt. Thợ thầy thì khởi công đình công. Buôn bán thì khai trương kiết trướng. Trường học thì tựu trường bãi trường. Chúng ta người xuất gia thì kiết chế giải chế, thỉnh chức thối chức. Không một nghề nào mà chẳng căn cứ thời tiết làm việc. Một số người cho năm qua là rất quan trọng cần phải thu nhặt những việc đã làm tổng kết lại, đồng thời cần phải nghỉ mấy ngày.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chúng ta có duyên lành hãnh diện ngày nay đồng ở tại Vân Môn bình yên qua một năm. Đó là nhờ Phật Tổ Bồ-tát gia hộ và Long Thiên phù trì, cũng do chúng ta nhiều kiếp tài bồi công đức mới cảm được quả tốt này. Nhưng, chúng ta được bình yên qua năm không thể quên được những người đang sống trong thống khổ. Chúng ta không thể thích thú vui cười, cần phải tỉnh xét ăn năn sám hối, tinh tấn tu hành tự lợi lợi tha, khuếch trương phước tuệ. Những vị già, cái chết đến trong chớp mắt cần phải tinh tấn dõng mãnh tu hành. Những người trẻ, cũng không nên lửng lơ qua ngày, phải biết con đường huỳnh tuyền không lựa già hay trẻ, mồ hoang biết bao người trẻ tuổi. Tóm lại, tất cả đều sớm nỗ lực cầu thoát khỏi vòng sanh tử mới là thượng kế.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chúng ta lâu nay mỗi ngày thường uống trà, tại sao hôm nay gọi “uống “Phổ trà”? Ấy là do lòng nhân từ của tiền bối mượn uống trà để kỉnh tỉnh môn đồ. Xưa Triệu Châu Lão nhân đạo đức cao siêu, học giả mười phương đến tham học rất đông. Một hôm, có hai vị tăng mới đến, Triệu Châu chỉ một vị hỏi: “Thượng tọa từng đến đây chưa?”. Vị tăng thưa: “Chưa từng đến”. Triệu Châu bảo: “Uống trà đi!”. Lại hỏi vị tăng khác: “Từng đến đây chưa?”. Vị tăng ấy thưa: “Đã từng đến đây”. Triệu Châu bảo: “Uống trà đi!”. Viện chủ bạch: “Người chưa từng đến dạy uống trà còn có thể được, người đã từng đến vì sao cũng dạy uống trà đi?”. Triệu Châu gọi “Viện chủ!”. Viện chủ đáp: “Dạ!”. Triệu Châu bảo: “Uống trà đi!”. Như thế, cả ba người đều được lợi ích. Sau này truyền khắp thiên hạ “Trà Triệu Châu”. Lại như Tổ Vân Môn ở đây, có một học giả đến yết kiến, Ngài bèn cầm cái bánh đưa lên, học giả liền lãnh hội. Sở dĩ thiên hạ lưu truyền “Bánh Vân Môn”, “Trà Triệu Châu”. Hiện giờ chư vị uống trà, ăn bánh đã ngộ chưa? Nếu như chưa ngộ, phải dùng cách hỏi: “Uống trà là gì?”, “Ăn bánh là gì?”. Đại để người xưa mỗi niệm hợp đạo, mỗi bước đều vô sanh, nên trải qua một câu kỉnh tỉnh liền được ngộ đạo. Người nay phạm hạnh chưa trong sạch thường ở trong động, mỗi niệm sanh diệt che lấp sâu dày, làm sao chỉ dạy pháp, cũng không giáo hóa người khác. Cho nên chư vị phải buông hết tất cả, không cho phàm tình vọng niệm làm nhiễm ô cái chân tâm sáng suốt của mình. Cổ nhân nói: “Chỉ dứt hết phàm tình, không riêng có Thánh giải”. Các ông nay uống trà nếu không biết hương vị của trà, thì đồng cây đá, nếu biết hương vị của trà, ấy là phàm phu. Làm sao bỏ được hai bên có và không này, đó là bổn phận của tăng sĩ vậy. Tuy nhiên, siêu thoát hai cái hiểu biết này vẫn còn sanh hoạt trong hang quỉ. Các ông phải kỹ càng “Buông hết thân tâm, chớ theo các cơ quan mà chuyển động”, ngay đó tham đi!&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;TU CÙNG KHÔNG TU&lt;a href=&quot;#tu-cùng-không-tu&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Giảng tu hành, giảng không tu hành đều là câu nói suông. Chúng ta thấu triệt tâm quang của mình rồi, liền đó không có một việc thì còn cái gì mà nói tu không tu. Thử xem chỗ hiển bày của Đức Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni, xuất gia, hỏi đạo, sau sáu năm khổ hạnh chứng đạo, khi sao mai mọc, Ngài than: “Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đức tướng, trí tuệ Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước không thể chứng được. Nếu lìa vọng tưởng là thanh tịnh trí, tự nhiên trí, vô sư trí tự nhiên hiện tiền”. Về sau nói pháp bốn mươi chín năm, mà Ngài tuyên bố: “Ta chưa từng nói đến một chữ ”. Sau này, trải qua chư vị Tổ sư một mạch truyền nối đều nhận định “Tâm, Phật, chúng sanh ba cái không khác”, “Chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật”. Nói ngang, nói dọc, hoặc đánh, hoặc nạt đều vì đoạn trừ phân biệt vọng tưởng của học giả; cốt cho học giả thẳng đó “biết được bản tâm, thấy được bản tánh của mình”. Không nương vào một chút phương tiện nói tu nói chứng. Ý chỉ của Phật Tổ, chúng ta đã thấy rõ ràng lắm vậy .&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Một niệm tâm hiện tiền của chúng ta xưa nay vẫn thanh tịnh, vẫn tự đầy đủ, bủa trùm khắp giáp, diệu dụng hằng sa cùng với chư Phật ba đời không khác. Chỉ cần không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không nghĩ gì cả, liền đó có thể thành Phật, ngồi một chỗ mà thiên hạ thái bình. Như thế, còn có hạnh nào đáng tu, giảng tu hành đâu không phải là câu nói suông. Nhưng một niệm tâm hiện tiền của chúng ta đang hướng ngoại tìm cầu, vọng tưởng chấp trước không thể rời được, từ vô thỉ đến nay lưu chuyển trong sanh tử, vô minh phiền não nhiễm quá sâu dày, ban đầu không biết tự tâm là Phật, biết rồi cũng chẳng chịu thừa đương, không thể làm chủ được, không có cái dũng khí của người tráng sĩ chặt tay, hằng ngày ở trong vọng tưởng chấp trước. Người bậc thượng, trọn ngày làm thế này thế nọ, cầu thiền cầu đạo, mà không thể rời được hữu tâm. Người bậc hạ, tham sân si ái bền chặt không thể phá, chạy ngược với đạo. Hai hạng người này trầm luân trong sanh tử không biết chừng nào dứt; nếu giảng không tu hành đâu không phải lời nói suông?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Các bậc đại trượng phu nhận định đã thấu triệt, biết rõ muôn sự muôn vật xưa nay đều là giấc mơ, huyễn hóa, hòn bọt, cái bóng không có tự tánh, nhân và pháp liền không, muôn duyên đều dứt, một niệm là muôn năm, thẳng đến chỗ vô sanh. Người bàng quan nhìn vào thấy bậc ấy cũng mặc áo, ăn cơm, đi đứng ngồi nằm như người thường. Đâu biết bậc ấy đang ngồi yên trong nhà thái bình thanh tịnh của mình, hưởng thọ kho báu vô tận, không khởi tâm không tạo tác, tự do tự tại, động tịnh đều là như như, lạnh hay nóng chỉ vị ấy tự biết mà thôi. Không những người, trời, quỷ thần trong tam giới lục đạo nhìn vị ấy không thấu, chính là chư Phật Bồ-tát cũng chẳng làm gì được người ấy. Đối với bậc này, còn nói cái gì là tu hành hay không tu hành?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hạng kế đó, cần phải phát khởi chí hướng, thống thiết nhớ việc chết sống, phát tâm hổ thẹn, khởi hạnh tinh tấn, hỏi đạo và cố gắng tham thiền; thường cầu thỉnh các bậc thiện tri thức chỉ dạy lối tắt, phân biệt thế nào là chánh, là tà; tha thiết giũa mài, lấy nước sông Hán mà rửa, đem ra mặt trời Thu mà phơi, dần dần càng được tinh thuần trắng sạch. Với hạng người này không thể không nói tu hành .Đã nói từ trước đến đây chẳng qua dời trên đổi dưới đều thuộc phương tiện tạm thời, người mắt sáng xem qua cốt nhận “vạch bùn lấy nước”. Song Tổ đình đã cuối thu, cách Phật ngày càng xa thẳm, vì ứng hợp căn cơ chúng sanh, bất đắc dĩ mới giảng giải thế này. Xét thật, giảng tu hành, giảng không tu hành đều là lời nói suông. Thẳng đó là vô sự, vốn không có một vật, đâu phiền mở miệng. Các Bồ-tát hội chăng?&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://nigioikhatsi.net/viet/thien/thamthienyeuchi.htm&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;thamthienyeuchi 1&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://nigioikhatsi.net/viet/thien/thamthienyeuchi-02.htm&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;thamthienyeuchi 2&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://nigioikhatsi.net/viet/thien/thamthienyeuchi-03.htm&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;thamthienyeuchi 3&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://nigioikhatsi.net/viet/thien/thamthienyeuchi-04.htm&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;thamthienyeuchi 4&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;GHI CHÚ&lt;a href=&quot;#ghi-chú&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;</content:encoded><category>category:Thực hành</category><category>tag:HƯỚNG DẪN</category><category>tag:THAM THIỀN</category><category>tag:TS ĐỨC THANH DIỄN TRIỆT</category><category>tag:TS HƯ VÂN DIỄN TRIỆT</category></item><item><title>THÔ TÂM DỤNG &amp; MIÊN MẬT DỤNG</title><link>https://tosuthien.org/post/tho-tam-dung-va-mien-mat-dung</link><guid isPermaLink="false">tho-tam-dung-va-mien-mat-dung</guid><pubDate>Tue, 23 Jun 2026 00:00:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt;SƠ ĐỒ&lt;a href=&quot;#sơ-đồ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic relation-dagre-flow-lr-animated-capsule&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  title 内容发布审核流程&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  desc 创作者提交内容到发布上线的标准链路（含驳回回路）&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  nodes&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Nhãn thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id eye&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính MẮT&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mdi/database-eye&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Nhĩ thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id ear&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính TAI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/earphone-bluetooth&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Tỷ thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id nose&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính MŨI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mdi/smell&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Thiệt thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id tongue&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính LƯỠI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/tongue&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Thân thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id body&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính THÂN&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/body&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Ý thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc QUYẾT ĐỊNH&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/brain&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Mạt-na thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id self-acceptance&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc CHẤP NGÃ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/body-scan&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label A-lại-da thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id consciousness-sea&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc BIỂN THỨC NHÓM CHỨA&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/ai-agent&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  relations&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    eye -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    ear -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    nose -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    tongue -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    body -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    thought -&amp;gt; self-acceptance&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    self-acceptance -&amp;gt; consciousness-sea&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    consciousness-sea -&amp;gt; self-acceptance&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    self-acceptance -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;theme light&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  palette antv&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;h2&gt;THÔ TÂM LÀ GÌ?&lt;a href=&quot;#thô-tâm-là-gì&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Như gói nhiều đậu nành trong bao, dù để ở đâu, bên trong ắt cũng lỏng lẻo, hễ mở bao ra thì đổ vãi đầy đất.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu đem bao đậu ngâm nước, đậu nẩy mầm nở ra thì làm bao bị bể. Dụ như thô tâm duyên cảnh, tâm cảnh đồng thô, dù thu lại thành một khối, cũng chưa quên các thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hơi có chút giãi đãi thì thân tâm tán loạn, nghi tình tiêu mất, &lt;strong&gt;tâm thiền&lt;/strong&gt; cũng tan.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt; THÔ TÂM DỤNG&lt;a href=&quot;#-thô-tâm-dụng&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Tâm có định loạn, thiền có đắc thất, sự gián đoạn đều do thô tâm này gây ra.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Thô tâm&lt;/strong&gt; là gì? Như gói nhiều &lt;strong&gt;đậu&lt;/strong&gt; nành trong bao, dù để ở đâu, bên trong ắt cũng lỏng lẻo, hễ mở bao ra thì đổ vãi đầy đất.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu đem bao &lt;strong&gt;đậu&lt;/strong&gt; ngâm nước, &lt;strong&gt;đậu&lt;/strong&gt; nẩy &lt;strong&gt;mầm&lt;/strong&gt; nở ra thì làm bao bị bể. Dụ như &lt;strong&gt;thô tâm&lt;/strong&gt; duyên &lt;strong&gt;cảnh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;tâm cảnh&lt;/strong&gt; đồng &lt;strong&gt;thô&lt;/strong&gt;, dù thu lại thành một &lt;strong&gt;khối&lt;/strong&gt;, cũng chưa quên các &lt;strong&gt;thức&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hơi có chút &lt;strong&gt;giãi đãi&lt;/strong&gt; thì thân tâm tán loạn, &lt;strong&gt;nghi tình&lt;/strong&gt; tiêu mất, &lt;strong&gt;tâm thiền&lt;/strong&gt; cũng tan.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu đem &lt;strong&gt;đậu&lt;/strong&gt; trong bao xay nát hòa với nước nhồi thành một khối, ắt từ bên trong bỏ được đậu, bên ngoài diệt được mầm, chẳng còn sanh ra đậu nữa.&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Cũng như vậy, các vọng lăng xăng thu về &lt;strong&gt;một niệm&lt;/strong&gt;, ngay ở trên niệm ấy, dùng sức của câu thoại đầu tham cứu quét sạch hết trần lao, cặn cáu chẳng còn, &lt;strong&gt;tham&lt;/strong&gt; thành một &lt;strong&gt;khối&lt;/strong&gt;, ắt từ bên trong &lt;strong&gt;khử vọng&lt;/strong&gt;, bên ngoài &lt;strong&gt;khử trần&lt;/strong&gt;, tự chẳng phát sanh &lt;strong&gt;thô tâm&lt;/strong&gt; vậy.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;h2&gt; MIÊN MẬT DỤNG&lt;a href=&quot;#-miên-mật-dụng&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Công phu gián đoạn ở trước rõ ràng là do &lt;strong&gt;thô tâm&lt;/strong&gt; làm thành. Đã nói là thô tâm thì cần phải tiến thêm một bước nữa.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Công phu miên mật, miên như sợi tơ, mật như vải bố. Do một sợi tơ mà thành miên, từ một đường chỉ mà thành mật.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Công phu do một pháp mà thành phiến, từ một niệm mà thành khối.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cũng như đem tơ dệt thành vải bố, sợi dệt dày (MIÊN) chẳng thông gió tức là xuất thế vô lậu, như vải bố dệt kín (MẬT) chẳng lọt mưa tức là thế giới vô lậu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu tham được đến chỗ pháp thế gian và pháp xuất thế gian cùng câu thoại đầu đồng một pháp, tâm thế gian và tâm xuất thế gian cùng câu thoại đầu đồng một tâm, là cái đạo MIÊN MẬT sâu vậy.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người làm được công phu miên mật thì quy củ thuần thục, oai nghi nghiêm túc, cử chỉ đoan chánh, ngữ ngôn giản thiểu, người đời đều tôn là Thượng Tọa.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Xin gửi lời nói với người tham thiền rằng: Chớ nghi tham thiền có nhiều chỗ khó, chỗ vi tế của tham thiền làm cho người ta sợ thế này thế nọ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Than ôi! Nếu có thể như con tằm nhả tơ, bắt đầu từ một sợi cho đến cuối cùng làm thành một kén, khoảng giữa không có gián đoạn, đó là công phu miên mật rõ ràng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bằng không, há người chẳng bằng vật ư!&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://taidayvabaygio.org/tho-tam-dung-mien-mat-dung-lai-qua-thien-su.html&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;taidayvabaygio.org&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://thuvienhoasen.org/a16771/tham-thien-pho-thuyet&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;thuvienhoasen.org&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt; Trích - &lt;a href=&quot;/books/tham-thien-pho-thuyet&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;THAM THIỀN PHỔ THUYẾT &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;GHI CHÚ&lt;a href=&quot;#ghi-chú&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;</content:encoded><category>category:Thực hành</category><category>tag:THAM THIỀN PHỔ THUYẾT</category><category>tag:TS LAI QUẢ</category></item><item><title>ĐƯỜNG LỐI THỰC HÀNH THAM TỔ SƯ THIỀN</title><link>https://tosuthien.org/post/duong-loi-thuc-hanh-tham-to-su-thien</link><guid isPermaLink="false">duong-loi-thuc-hanh-tham-to-su-thien</guid><pubDate>Tue, 23 Jun 2026 00:00:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt;SƠ ĐỒ&lt;a href=&quot;#sơ-đồ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic list-sector-plain-text&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  title 企业优势列表&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  desc 展示企业在不同维度上的核心优势与表现值&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  lists&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 1&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 85&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 在目标用户群中具备较强认知与信任度&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2021&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/diamond-2-fill&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creative-experiment&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 2&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 90&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 拥有自研核心系统与持续创新能力&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2022&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/code-fill&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus code-thinking&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 3&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 78&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 近一年用户规模实现快速增长&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2023&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/wallet-4-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus business-analytics&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 4&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 88&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 用户对服务体系整体评分较高&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2020&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/happy-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus feeling-happy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 5&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 92&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 构建了完整用户标签与画像体系&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2022&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/user-4-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus mobile-photos&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 6&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 83&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 新产品上线频率高于行业平均&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2023&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/rocket-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creativity&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 7&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 83&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 新产品上线频率高于行业平均&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2023&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/rocket-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creativity&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 8&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 83&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 新产品上线频率高于行业平均&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2023&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/rocket-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creativity&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 9&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 83&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 新产品上线频率高于行业平均&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2023&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/rocket-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creativity&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 10&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 83&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 新产品上线频率高于行业平均&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2023&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/rocket-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creativity&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;theme light&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  palette antv&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic list-sector-plain-text&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  title 企业优势列表&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  desc 展示企业在不同维度上的核心优势与表现值&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  lists&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 1&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 85&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 在目标用户群中具备较强认知与信任度&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2021&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/diamond-2-fill&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creative-experiment&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 2&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 90&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 拥有自研核心系统与持续创新能力&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2022&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/code-fill&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus code-thinking&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;theme light&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  palette antv&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;h2&gt;GIỚI THIỆU&lt;a href=&quot;#giới-thiệu&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Tổ Sư Thiền là pháp Thiền trực tiếp do Phật Thích ca đích thân truyền cho Sơ tổ Ma ha ca diếp, rồi truyền cho Nhị tổ A nan, Tam tổ Thương na hòa tu, từ Tổ từ Tổ truyền xuống, đến Tổ thứ 28 là Bồ đề đạt ma truyền sang Trung quốc làm Sơ tổ Trung quốc rồi truyền cho người Trung quốc là Nhị tổ Huệ Khả, Tam tổ Tăng Xán, Tứ tổ Đạo Tín, Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Lục tổ Huệ Năng v.v… Đến Thầy Thích Duy Lực là đời thứ 89 (kể từ Tổ Ca diếp).&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Theo thực tế mà nói, Phật giáo là giáo dục, truyền dạy Tâm pháp dẫn đến giác ngộ cuối cùng, nhưng hiện nay nhiều người hiểu lầm cho là một Tôn giáo mê tín. Nói giáo dục là bao gồm vũ trụ vạn vật, chẳng có một sự vật nào thiếu sót gọi là vạn pháp duy Tâm. Vì nguồn gốc của vạn sự vạn vật là Tâm linh, nên phật Thích ca nói tất cả do Tâm tạo.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vậy Tâm là thế nào ?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tâm là một danh từ ai cũng nói được, nhưng Tâm là gì thì chẳng ai biết. Tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn độ là ngài Long Thọ dùng “hư không vô sở hữu” để thí dụ cho Tâm. Tâm linh vốn không có hình thể số lượng.
Do đó dùng bộ não suy nghĩ chẳng thể tiếp xúc, nên chẳng thể dùng lời nói văn tự để diễn tả. Phật pháp chỉ có thể miễn cưỡng nói là Tánh không.
Dù nói Không, Không này tức là để hiển bày sự dụng của Tâm, cũng như hư không vô sở hữu mà dung nạp tất cả vật.
Tất cả vũ trụ vạn vật từ Mặt trăng, Mặt trời, cho tới núi sông, đất đai, nhà cửa, cây cối, bất cứ cái gì đều phải nhờ cái vô sở hữu này dung nạp và ứng dụng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cuộc sống hằng ngày của con người như ăn cơm, mặc áo, nói chuyện, tiếp khách, làm việc đều phải nhờ cái vô sở hữu này mới được hiển bày, chỉ tiếc rằng chúng ta ứng dụng hằng ngày mà chẳng tự biết.
Nên Phật Thích ca dạy pháp Thiền trực tiếp (TST) để mọi người đều được tự hiện toàn vẹn chính Tâm mình. Cái giờ phút hiện ra Tâm mình gọi là Kiến tánh thành Phật. Dù nói thành Phật thực chẳng có Phật để thành, chỉ là ở trong mở mắt chiêm bao tỉnh dậy mà thôi, cũng như ở trong nhắm mắt chiêm bao tỉnh dậy thì tự chứng tỏ tất cả sự vật trong chiêm bao đều chẳng thật gọi là Chứng ngộ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tham Tổ sư Thiền tức là: Tham thoại đầu và Khán thoại đầu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nay nói sơ về cách thực hành: Thoại là lời nói, đầu là đầu tiên lời nói. Nghĩa là khi chưa khởi ý niệm muốn nói gọi là “thoại đầu”.
Tham là hỏi câu thoại để kích thích sự không hiểu không biết. Khán là nhìn chỗ không biết (thoại đầu), muốn xem chỗ không biết đó là gì?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chỗ không biết thì không có chỗ, không có chỗ thì không có mục tiêu để nhìn.
Nên nhìn mãi không thấy gì vẫn còn không biết, chính cái muốn biết (hiểu) mà biết không được đó Thiền tông gọi là nghi tình.
Hành giả tham thiền cứ hỏi (tham) và nhìn (khán) đồng thời đi song song để phát khởi nghi tình. Nghi tình này sẽ đưa hành giả đến thoại đầu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thoại đầu tức là vô thuỷ vô minh, cũng gọi là “đầu sào trăm thước”, cũng là nguồn gốc của ý thức. Từ đây tiến lên một bước ngay đó liền lìa ý thức bỗng dứt hết nghi.
Cái sát na lìa ý thức đó gọi là Kiến tánh thành Phật, tức là Trí bát nhã được hiện hành khắp không gian và thời gian, sự hiểu biết chẳng còn gì thiếu sót. Giáo môn gọi là Chánh biến tri.&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Đạo Thiền này từ Sơ tổ Đạt Ma Đại Sư khi Ngài đến Trung Quốc:
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;➡️ Nhị tổ Huệ Khả ➡️ Tam tổ Tăng Xán ➡️ Tứ tổ Đạo Tín ➡️ Ngũ tổ Hoằng nhẫn ➡️ Đại Giám Huệ Năng là Lục tổ&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Lục Tổ ➡️ Thanh Nguyên Hành Tư (? - 740) ➡️ Thạch Đầu Hi Thiên (700 - 790) ➡️ Dược Sơn Duy Nghiễm (745  -  828)&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;➡️ Vân nham Đàm Thạnh (782 - 814) ➡️ Động Sơn Lương Giới (807 - 869) ➡️ Tào Sơn Bổn tịch (890 - 901) là tổ tông Tào Động.&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://thuvienhoasen.org/a9139/duong-loi-tham-to-su-thien&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;thuvienhoasen&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://phatpahpungdung.com/sach-noi/duong-loi-thuc-hanh-tham-to-su-thien-63361.html&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;phatpahpungdung&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://tosuthien.net/&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;tosuthien.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;GHI CHÚ&lt;a href=&quot;#ghi-chú&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;</content:encoded><category>category:Thực hành</category><category>tag:HƯỚNG DẪN</category><category>tag:THAM THIỀN</category><category>tag:HT THÍCH DUY LỰC</category></item><item><title>SƠ ĐỒ BIỂN TÂM THỨC THEO DUY THỨC HỌC</title><link>https://tosuthien.org/post/so-do-bien-tam-thuc-theo-duy-thuc-hoc</link><guid isPermaLink="false">so-do-bien-tam-thuc-theo-duy-thuc-hoc</guid><pubDate>Sun, 21 Jun 2026 16:20:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt;SƠ ĐỒ&lt;a href=&quot;#sơ-đồ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic chart-wordcloud&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  values&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label THAM LAM&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 55&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label SÂN HẬN&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 21&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label SI MÊ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 39&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label NGẠO MẠN&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 12&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label TÀ NGHI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 35&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label NGHI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 33&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label ÁC KẾN&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 25&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label SÁT NA&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 1&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label LOẠN ĐỘNG&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 1&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;theme light&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  palette antv&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic sequence-pyramid-simple&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  title CHƯỚNG NGẠI CỦA CHẤP VÀO TÂM THIỆN&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  desc chấp phải làm việc thiện, bị rượu của quả thiện làm say&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  sequences&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 品牌影响力&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 85&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 在目标用户群中具备较强认知与信任度&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2021&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/diamond-2-fill&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creative-experiment&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 技术研发力&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 90&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 拥有自研核心系统与持续创新能力&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2022&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/code-fill&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus code-thinking&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 市场增长快&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 78&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 近一年用户规模实现快速增长&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2023&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/wallet-4-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus business-analytics&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 服务满意度&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 88&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 用户对服务体系整体评分较高&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2020&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/happy-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus feeling-happy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 数据资产全&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 92&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 构建了完整用户标签与画像体系&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2022&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/user-4-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus mobile-photos&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 创新能力强&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 83&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 新产品上线频率高于行业平均&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2023&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/rocket-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creativity&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;theme light&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  palette antv&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic sequence-funnel-simple&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  title CHƯỚNG NGẠI CỦA CHẤP VÀO TÂM BẤT THIỆN&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  desc chấp phải làm việc bất thiện, bị lửa của quả bất thiện đốt cháy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  sequences&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 品牌影响力&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 85&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 在目标用户群中具备较强认知与信任度&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2021&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/diamond-2-fill&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creative-experiment&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 技术研发力&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 90&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 拥有自研核心系统与持续创新能力&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2022&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/code-fill&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus code-thinking&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 市场增长快&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 78&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 近一年用户规模实现快速增长&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2023&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/wallet-4-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus business-analytics&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 服务满意度&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 88&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 用户对服务体系整体评分较高&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2020&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/happy-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus feeling-happy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 数据资产全&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 92&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 构建了完整用户标签与画像体系&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2022&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/user-4-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus mobile-photos&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 创新能力强&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 83&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 新产品上线频率高于行业平均&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2023&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/rocket-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creativity&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;theme light&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  palette antv&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic relation-dagre-flow-lr-animated-capsule&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  title DUY THỨC HỌC&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  desc 8 thức &amp;amp; Chủng t&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  nodes&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Nhãn thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id eye&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính MẮT&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mdi/database-eye&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Nhĩ thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id ear&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính TAI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/earphone-bluetooth&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Tỷ thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id nose&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính MŨI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mdi/smell&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Thiệt thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id tongue&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính LƯỠI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/tongue&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Thân thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id body&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính THÂN&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/body&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Ý thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc QUYẾT ĐỊNH&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/brain&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Mạt-na thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id self-acceptance&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc CHẤP NGÃ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/body-scan&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label A-lại-da thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id consciousness-sea&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc BIỂN THỨC NHÓM CHỨA&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/ai-agent&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  relations&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    eye -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    ear -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    nose -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    tongue -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    body -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    thought -&amp;gt; self-acceptance&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    self-acceptance -&amp;gt; consciousness-sea&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    consciousness-sea -&amp;gt; self-acceptance&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    self-acceptance -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;theme light&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  palette antv&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic sequence-filter-mesh-simple&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  title QUÁ TRÌNH GẠN LỌC CHỦNG TỬ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  desc Chủng tử từ vô thỉ kiếp được gạn lọc bở NGHI TÌNH&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  sequences&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 品牌影响力&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 85&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 在目标用户群中具备较强认知与信任度&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2021&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/diamond-2-fill&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creative-experiment&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 技术研发力&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 90&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 拥有自研核心系统与持续创新能力&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2022&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/code-fill&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus code-thinking&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 市场增长快&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 78&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 近一年用户规模实现快速增长&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2023&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/wallet-4-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus business-analytics&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 服务满意度&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 88&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 用户对服务体系整体评分较高&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2020&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/happy-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus feeling-happy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 数据资产全&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 92&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 构建了完整用户标签与画像体系&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2022&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/user-4-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus mobile-photos&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label 创新能力强&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      value 83&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc 新产品上线频率高于行业平均&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      time 2023&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mingcute/rocket-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      illus creativity&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;theme light&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  palette antv&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;GHI CHÚ&lt;a href=&quot;#ghi-chú&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;</content:encoded><category>category:VIJNANAVADA</category><category>tag:SƠ ĐỒ</category></item><item><title>THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI TẬP</title><link>https://tosuthien.org/post/thien-tong-quyet-nghi-tap</link><guid isPermaLink="false">thien-tong-quyet-nghi-tap</guid><pubDate>Sat, 20 Jun 2026 14:39:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt;SƠ ĐỒ&lt;a href=&quot;#sơ-đồ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic relation-dagre-flow-lr-animated-capsule&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  title 内容发布审核流程&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  desc 创作者提交内容到发布上线的标准链路（含驳回回路）&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  nodes&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Nhãn thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id eye&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính MẮT&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mdi/database-eye&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Nhĩ thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id ear&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính TAI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/earphone-bluetooth&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Tỷ thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id nose&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính MŨI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon mdi/smell&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Thiệt thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id tongue&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính LƯỠI&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/tongue&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Thân thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id body&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc Lăng kính THÂN&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/body&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Ý thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc QUYẾT ĐỊNH&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/brain&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Mạt-na thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id self-acceptance&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc CHẤP NGÃ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/body-scan&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label A-lại-da thức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      id consciousness-sea&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      desc BIỂN THỨC NHÓM CHỨA&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      icon tabler/ai-agent&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  relations&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    eye -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    ear -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    nose -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    tongue -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    body -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    thought -&amp;gt; self-acceptance&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    self-acceptance -&amp;gt; consciousness-sea&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    consciousness-sea -&amp;gt; self-acceptance&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    self-acceptance -&amp;gt; thought&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;theme light&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  palette antv&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;h2&gt;TỰA&lt;a href=&quot;#tựa&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Quyển THIỀN TÔNG QUYẾT NGHI TẬP này do thiền sư &lt;strong&gt;Đoạn Vân Trí Triệt&lt;/strong&gt; ở Tây Thục soạn vào đời Nguyên, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hi thứ 6 (1667) đời Thanh, sau đó được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 1009.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chẳng rõ Sư người xứ nào. Chỉ biết năm 26 tuổi, Sư thọ ngũ giới, ăn chay, chuyên tâm niệm Phật.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Năm 31 tuổi, Sư theo hòa thượng Vân Phong Diệu Cao xuất gia, tham thiền học đạo, được hòa thượng trao câu thoại đầu: “Muôn pháp về một, một về đâu?”. Sau đó, Sư đến am Hà Đường Chủ ở phủ Quỳ, ngày đêm tinh tấn Thiền hành, buông bỏ ngoại duyên, đạt đến trạng thái trần cảnh bặt dứt, niệm tịnh nối nhau.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Theo lời thỉnh cầu của thủ tọa Độn Cơ và sự động viên của hòa thượng Cổ Đạo, Sư đã biên soạn tác phẩm này, ngõ hầu làm kim chỉ nam cho người sơ cơ. Sư đem sự thể nghiệm của chính mình để nói về công phu dụng tâm học đạo, đồng thời trình bày và giải thích phương pháp tu đạo thực tiễn, lấy việc tham cứu sâu xa huyền chỉ Phật đạo để hiển bày bản lai diện mục nơi mỗi người.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nội dung sách này chia làm 21 môn:&lt;/p&gt;
&lt;ol&gt;
&lt;li&gt;Nguyên trạm lưu thanh môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Li trần tinh tấn môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Khước bộ phục thăng môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Thối đọa sách lệ môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Giải đãi miễn cần môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Chấp ngại quyết nghi môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Thất chính cứu cánh môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Triệt để cùng uyên môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Chỉ bản hoàn chân môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Thuận tức miễn hoạn môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Thượng căn lợi khí môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Thiền lâm tĩnh lự môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;U cư chính phái môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Kỳ Viên Thánh chúng môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Giác ngộ huyền tông môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Quy nguyên thật tế môn,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Thể dụng song tu âm dực Vương hóa,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Song lâm di giới chúng đẳng tuân y,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Sám hối pháp môn Bồ-đề hạnh nguyện,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Ức tích xuất trần thừa huynh cảnh giới,&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Phục trưng giải đọa chỉ cảnh tức mê&lt;/li&gt;
&lt;/ol&gt;
&lt;p&gt;Trong sách phần nhiều bàn về việc của ngài Triệu Châu Tùng Thẩm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sau này, các tác phẩm Thiền Quan Sách Tấn của Châu Hoằng, Giác Hổ tập quyển hạ của Tế Năng, phần nhiều căn cứ theo sách này.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sau đây là một số qui ước viết tắt ở phần cước chú:&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;TĐPHHQ: Từ Điển Phật Học Huệ Quang, Thích Minh Cảnh chủ biên&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;PHĐTĐ: Phật Học Đại Từ Điển của Đinh Phúc Bảo&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;TĐTTHV: Từ Điển Thiền Tông Hán Việt, Hân Mẫn- Thông Thiền biên dịch&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;HNĐTĐ: Hán Ngữ Đại Từ Điển, Mộng Trúc Phong chủ biên&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;p&gt;Những kẻ hậu học là hàng sơ cơ thấp kém, kiến thức và sự hành trì không được mảy may, chỉ phiên dịch theo từ ngữ thì làm sao tránh khỏi lỗi lầm!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngưỡng vọng các bậc tôn túc, trí giả chỉ dạy thêm.&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;(Lời người dịch)&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;1. Nguyên trạm lưu thanh môn (Nguồn lặng dòng trong)&lt;a href=&quot;#1-nguyên-trạm-lưu-thanh-môn-nguồn-lặng-dòng-trong&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Các pháp không tự khởi, chúng hiện hữu đều có nguyên do. Muốn sạch các nghi, cần phải trừ những mê lầm nhỏ nhiệm.
Nay tôi xin thuật lại quá trình hạ thủ công phu năm xưa khiến người học thấy nghe, từ đó dễ dàng tu tập.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi là kẻ xuất gia muộn màng, dốc hết đạo tâm kiên cố, không đoái hoài đến sự nguy vong, một bề thẳng tiến.
Dầu gặp ma, gặp nạn, tâm niệm ấy vẫn không quên; gặp nhục, gặp vinh cũng một lòng không hề nao núng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cho nên bị gọi là kẻ cố chấp. Nếu không có tâm sắt đá thì làm sao kham nổi việc như thế! Lúc còn trẻ, tuy tôi ở trong vòng ngũ dục &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-2&quot;&gt;1&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; mà như dạo chơi cảnh vườn; dù trần lao đầy dẫy, việc đời dồn dập, nhưng chạm cảnh thì vô vi, tâm thường điềm tĩnh; được mà không vui, ứng dụng vô cùng; mất cũng chẳng buồn, hiện tiền vô ngại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lúc mới tu học, tôi đã trải qua nhiều gian nan, nhưng suy xét tận cùng mà cũng không có nơi thú hướng.
Vào thời tráng niên khỏe mạnh, làm việc hơn người, công phu dõng mãnh, nhưng khó đạt đến chỗ rốt ráo.
Nay thật tình bảo cùng bạn đạo, phân tích nguyên do. Đạo do người hoằng truyền, không luận tăng hay tục.&lt;/p&gt;
⚡️⛩⚡️
&lt;h2&gt;2. Ly trần tinh tấn môn (Tinh tấn lìa trần)&lt;a href=&quot;#2-ly-trần-tinh-tấn-môn-tinh-tấn-lìa-trần&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;26 tuổi, Trí Triệt tôi thọ giới, trì trai, chuyên tâm niệm Phật.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;31 tuổi, xuất gia làm tăng, tham thiền học đạo.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thầy tôi là hòa thượng Vân Phong &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-3&quot;&gt;2&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; dạy tham câu: “Muôn pháp về một, một về đâu?”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sau đó, tôi cùng với huynh Quang kết bạn đi đến am Hà Đường Chủ ở phủ Quỳ.
Nơi đây rất yên tịnh, nên tôi quyết định chọn làm chỗ dừng chân.
Tự ở trước tượng Phật đốt hương phát nguyện, lập hạn quyết tử trong ba năm, đồng thời phát thệ rằng: “Nếu tôi giải đãi, ham muốn ngồi nằm, mong cầu an ổn, thân chạm giường ghế thì cam chịu đọa vào địa ngục Vô Gián &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-4&quot;&gt;3&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; không có ngày ra”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Từ đó, ngày đêm thiền hành, trừ hai thời cơm cháo mới ngồi, các việc khác như uống trà nước cũng không dừng chân.
Bạn đạo, thí chủ đến thăm hỏi, cũng không tiếp đãi, nói năng thiểu giảm, luôn đề cử câu: “Muôn pháp về một, một về đâu?”.
Chỉ để tâm vào chữ “một” này, hết sức tha thiết, đề khởi nghi tình.
Có lúc đắc lực, tâm như bầu trời trong xanh, không gợn một áng mây, chỉ biết nghi tình nơi chữ “một”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong tâm linh hoạt, như hạt châu lăn ngang dọc trong mâm không ngăn ngại.
Đến trạng thái này không biết có thân đi trên đất, cũng chẳng biết có việc động, tĩnh, lạnh, nóng ở thế gian. Xoay thân, cúi ngước, đại tiểu tiện đều không có tâm tính toán, phân biệt, chỉ theo nghi tình ấy mà thuận chân bước đi; ăn cơm ăn cháo tiện tay nắm muỗng, buông đũa; lại chẳng biết trong cơm ăn có vị cay, chua, mặn, lạt. Đến đây mới biết là công phu chuyên tâm một chỗ, chỉ có niệm tịnh nối nhau.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi nêu ra việc này, hoặc có người chưa hạ thủ công phu thì nghi ngờ không tin, vì vậy tôi tạm nêu hai ví dụ nhỏ.
Thí như ở đời có một dũng sĩ nổi cơn thịnh nộ, vào trong trăm vạn quân, bắt lấy vị thống soái. Người đó muốn chiến thắng để lập công mà không đoái hoài đến sự nguy vong. Một khi phẫn nộ liền tiến tới trước, không có ý thoái lui, người học đạo cũng giống như thế.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Như chúng ta muốn cầu đạo vi diệu vô thượng để báo đền bốn ân &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-5&quot;&gt;4&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; sâu nặng, mượn hình hài cha mẹ cho, đốt một cây hương, một ngón tay, một cánh tay, phát khởi một niệm tinh tấn thì quên hết đau khổ. Vì sao? Bởi không có niệm thứ hai, vừa biết đau khổ thì rơi vào niệm thứ hai.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hai ví dụ trên là muốn để cho người học tin sâu việc này, không được nghi ngờ, công phu thấu đáo mới có chỗ tương ưng; đồng thời lấy điều này làm qui tắc cho việc thực hiện công phu đắc lực.&lt;/p&gt;
⚡️⛩⚡️
&lt;h2&gt;3. Khước bộ phục thăng môn (Lùi bước rồi lại tiến)&lt;a href=&quot;#3-khước-bộ-phục-thăng-môn-lùi-bước-rồi-lại-tiến&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Giờ đây, nêu trường hợp khi công phu không đắc lực. Nghi tình trên chữ “một” này chợt nghi, chợt mất, đó là do rơi vào hôn trầm hoặc bị tán loạn.
Nếu ráng dùng sức khởi nghi thì đã không đắc lực mà lùi lại càng lùi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chữ lui sụt (thoái) này, phần lớn hành giả không biết xử trí, cho nên nêu một ví dụ nhỏ để làm sáng tỏ.
Như có người nghèo nghe ngoài muôn dặm có châu báu, liền đi tìm, hoặc đi được 1000, 2000 dặm, 5000 dặm lại sinh tâm thoái lui, không muốn đi nữa.
Khi vừa thoái lui bỗng tự nhiên than rằng: “Nếu ta trở về thì uổng phí công sức trước kia, mãi chịu đói nghèo khốn khổ”.
Lại nghĩ: “Châu báu đó ai đi cũng có phần, sao ta lại bỏ?”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bấy giờ người ấy phấn chấn quyết chí tiến bước đến nơi, nhặt châu báu, trở thành giàu có, làm lợi ích an vui cho cả quyến thuộc.
Việc thế gian đều như thế. Nay nêu ra ví dụ tiến, thoái này nhằm vào chỗ hạ thủ công phu không đắc lực khiến cho đắc lực.
Thật ra, sợ hàng hậu học đời sau nửa chừng chán bỏ, cho nên lấy việc này để khuyên gắng thêm!&lt;/p&gt;
⚡️⛩⚡️
&lt;h2&gt;4. Thối đọa sách lệ môn (Khuyến tấn khích lệ khi tâm thoái lui)&lt;a href=&quot;#4-thối-đọa-sách-lệ-môn-khuyến-tấn-khích-lệ-khi-tâm-thoái-lui&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Đoạn này nêu lên hai trường hợp thoái lui và không đắc lực, người học không được gom thành một việc.
Sau đây nói rõ lại chữ “thoái” này khiến cho người học nhận biết.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thoái là thoái tâm Bồ-đề, thoái tâm bền lâu, thoái tâm tinh tấn, không muốn lễ Phật, không muốn tu đạo, không muốn tham kiến thiện tri thức, không muốn thân gần bạn đạo, không muốn đề khởi thoại đầu, chỉ thích nhàn rỗi buông lung. Nếu khi niệm thoái này phát khởi (là do dụng tâm quá độ, hoặc là nghiệp chướng sâu dày, căn lành yếu kém) thì chúng ta phải luôn luôn đến trước tượng Phật, bồ-tát chí thành đảnh lễ, đốt một nén hương, tỏ bày tội lỗi, cầu xin sám hối, rồi dõng mãnh đề khởi thoại đầu. Niệm này như nước sôi làm tan băng giá. Bấy giờ chỉ thuần một niệm tịnh, người học cần phải biết rõ. Khi tôi mới gặp niệm thoái này, liền đốt hương tỏ bày sám hối, cầu Phật thương xót phù hộ, rồi liền đề khởi thoại đầu, niệm thoái này lập tức tiêu diệt. Đây là việc tôi đã trải nghiệm, xin ghi ra đây để sách tấn hàng hậu học.&lt;/p&gt;
⚡️⛩⚡️
&lt;h2&gt;5. Giải đãi khích lệ môn (Khuyên người giải đãi nên siêng năng)&lt;a href=&quot;#5-giải-đãi-khích-lệ-môn-khuyên-người-giải-đãi-nên-siêng-năng&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Đây là giải quyết trường hợp không đắc lực.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu trên câu thoại đầu chẳng khởi nghi tình, hoặc là không đề khởi nổi thoại đầu, hoặc lúc còn, lúc mất, hoặc chạy theo thanh sắc, hoặc phan duyên, hoặc thích ngủ nghỉ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đó đều là do lười biếng, buông lung thân tâm; đối với việc sinh tử, dụng tâm không tha thiết, dính mắc mọi nơi, cho nên không đắc lực.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Khi công phu chưa thuần thục, hai thứ bệnh này thường dấy khởi.
Tôi để tâm vào câu thoại đầu, quyết khởi nghi tình, không cần phân biệt, bài xích thị phi.
Một khi nghi tình phát khởi, niệm này liền tiêu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Những điều đã nói ở trên, đều không vì mục đích nào khác, chỉ nhằm quyết đoán chỗ hạ thủ công phu cho người học, để tâm thanh tịnh, hoạt bát không có một niệm nào khác,
bỏ hết những điều hiểu biết trước kia, từ học ❓, từ lời Phật dạy, lời Tổ nói, lời Bách gia chư tử &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-6&quot;&gt;5&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, ngay lúc ấy tình thức bít kín, tâm thánh phàm dứt bặt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đến đây tham thoại đầu, hoặc tham chữ “KHÔNG ️” (vô), hoặc đề cử câu: “Muôn pháp về một, một về chỗ nào” đều được. Một khi đảm đương thì phải phấn chấn, ra sức tiến thẳng đến trước, không quay đầu lại, về đến tận nhà, ngồi an ổn, mới là lúc an lạc thật sự.&lt;/p&gt;
⚡️⛩⚡️
&lt;h2&gt;6. Chấp ngại quyết nghi môn (Khuyên người chấp trước nên khởi nghi tình)&lt;a href=&quot;#6-chấp-ngại-quyết-nghi-môn-khuyên-người-chấp-trước-nên-khởi-nghi-tình&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Hai công án trên đây, đều phát xuất từ hòa thượng Triệu Châu &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-7&quot;&gt;6&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, và đã được nêu ra nhiều trong chốn tòng lâm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chữ “KHÔNG ️” này, tôi thường thấy đồng đạo có các kiến giải chấp không, chấp có, chấp đoạn, chấp thường.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người chấp “không” cho rằng: “Ngài Triệu Châu nói “KHÔNG ️” là muôn pháp vốn không, bổn tánh vốn không, có gì mà nghi?”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người chấp “có” nói: “Ngài Triệu Châu nói “KHÔNG ️” là chỉ cho “có”, nói “KHÔNG ️” là trong “KHÔNG ️” tức “có”; vậy nghi điều gì?”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người chấp “đoạn” bảo: “Ngài Triệu Châu nói “KHÔNG ️” là vạn hữu đều không, không có một cái gì để ta nắm bắt đựơc, cần gì phải nghi?”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Còn người chấp “thường” lại bảo: “Ngài Triệu Châu nói “KHÔNG ️” là chơn tánh thường còn, lặng yên bất động, nghi làm gì?”.
Ôi! Do kiến giải thiên lệch, nên mới có sai lầm này.
Nếu chủ trương chẳng cần dùng nghi tình mà được Vô thượng bồ-đề như thế, thì chỉ có Thiên sinh Di-lặc và Tự nhiên Thích-ca &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-8&quot;&gt;7&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; mới được mà thôi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thí như những người có nghệ thuật tinh xảo ở thế gian, chưa ai không NGHI mà thành tựu cả.
Một chữ NGHI này là tâm suy nghĩ dụng mưu, nghĩa đồng nhưng tên lại khác.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Như trong hội Lăng-nghiêm, hai mươi lăm hành giả &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-9&quot;&gt;8&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; được viên thông, mỗi vị đều có nghi, nên mới chứng ngộ, việc này ai cũng biết, chẳng cần giải thích rõ.&lt;/p&gt;
⚡️⛩⚡️
&lt;h2&gt;7. Thất chính cứu cánh môn (Cứu cánh sai lầm)&lt;a href=&quot;#7-thất-chính-cứu-cánh-môn-cứu-cánh-sai-lầm&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Đây là trình bày việc tham chữ “KHÔNG ️”, người học nghe bậc tôn túc nói nên đem chữ “KHÔNG ️” này dán trên mắt, mắt liền thành chữ “KHÔNG ️”, chữ “KHÔNG ️” liền thành con mắt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người học chỉ cần khán &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-10&quot;&gt;9&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; như thế liền lãnh hội được chữ “KHÔNG ️”, rồi ngồi kết-già trên đơn, nắm chặt tay, cắn chặt răng, mở to hai con mắt mà nhìn chữ “KHÔNG ️” này.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lúc nhỏ thì nhỏ như vi trần, lớn thì lớn như bầu trời, hoặc ẩn hoặc hiện đều nhận cho đúng, ngay đó công phu được đắc lực.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lại nghe người học nhờ vị thầy khai phát: “Vị tăng ❓ ngài Triệu Châu: “Con chó có Phật tánh KHÔNG ️?”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngài Triệu Châu nói “KHÔNG ️”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thầy liền bảo đề khởi chữ “KHÔNG ️”, người học tin nhận thực hành theo, rồi đi cũng chữ “KHÔNG ️”, ngồi cũng chữ “KHÔNG ️”, ăn cơm, mặc áo cũng chữ “KHÔNG ️”, trong tất cả các thời đều khán chữ “KHÔNG ️”, hoặc nhanh hoặc chậm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lại tự nói: “Niệm chậm thì trong tất cả thời không niệm mà tự niệm, niệm chữ “KHÔNG ️” này một cách linh hoạt, vô ngại. Lại nói: Khi niệm gấp, niệm hết một hơi mới dừng, xoay vần như thế, cho đây là công phu thuần thục.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi từng nghe nói như vậy, rất sợ người học đời sau nhầm lẫn, nên mạo muội đưa ra hai ví dụ nhỏ để mọi người đều biết.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Xét niệm chậm này giống như đứng trên cao ném hạt đậu, mặc tình văng đến đâu đều không ngăn ngại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Còn niệm gấp thì giống như đứng trên lầu trống canh đánh một hồi, một hồi này vừa dứt lại một hồi khác, đâu có lợi ích gì?
Hai loại công phu khán và niệm chữ “KHÔNG ️” nói ở trước, tứ chúng &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-11&quot;&gt;10&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; thực hành theo rất nhiều, nói ra giống như chuyện đùa.
Thật là đáng tiếc! Hoặc có người tham câu: “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;❓ đến chỗ thích đáng để khởi nghi tình, liền nói lung tung, hoặc nói khởi nghi tình trên chữ “chỗ nào?”, hoặc nói khởi nghi tình trên chữ “một về”, hoặc cả hai câu, hoặc chỉ câu sau.
Mỗi người chủ trương một đường riêng mà không thay đổi. Thật không thể hiểu được!&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;8. Triệt để cùng uyên môn (Cùng nguồn tận đáy)&lt;a href=&quot;#8-triệt-để-cùng-uyên-môn-cùng-nguồn-tận-đáy&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Tôi hổ thẹn lúc còn đang tu học, chưa được thăng đường nhập thất &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-12&quot;&gt;11&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; chỉ trộm nhìn ý thú ở đầu cửa mà thôi. Ví như người quản lí châu báu cho nhà vua, châu báu này vốn chẳng phải của anh ta, nhưng anh ta có thể phân biệt thật, giả, quí, tiện, khinh, trọng. Nếu quyến thuộc của vua cần lấy, liền theo ý mà cấp cho họ dùng, không lẫn lộn. Cũng giống như thế, diệu pháp vô thượng của Phật, Tổ chẳng phải của tôi, nhưng thứ tự công phu, tà, chính, sâu, cạn tôi cũng lược biết và trình bày cho mọi người hiểu. Tôi nguyện cùng với những đồng đạo giải quyết nghi tình này, nhất định không dối gạt nhau.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vị tăng ❓ ngài Triệu Châu: Con chó có Phật tánh KHÔNG ️?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngài Triệu Châu : KHÔNG ️!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vị tăng ❓ tiếp: Sâu bọ hàm linh đều có Phật tánh, vì sao con chó không có Phật tánh?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngài Triệu Châu : KHÔNG ️!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vị tăng ngay đó, nếu nói hiểu thì liền bị ngài Triệu Châu nhổ nước bọt vào miệng và mắng cho một trận thậm tệ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Triệu Châu phải im lặng, để lời này không lưu truyền ở đời.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vị tăng bấy giờ nếu không lãnh hội được lời này, toàn thân đều rơi vào nghi tình, liền khống chế hai trăm sáu mươi đốt xương, tám vạn bốn nghìn lỗ chân lông, khiến hơi thở không thông.
Vị tăng đưa tay nắm kéo ngài Triệu Châu lại và nói: “Phật dạy sâu bọ hàm linh đều có Phật tánh, vì sao hòa thượng nói con chó không có Phật tánh, là ý gì?”
Ngài Triệu Châu lại nói: “KHÔNG ️!”
Đến đây vị tăng nghi tình càng nặng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ông đi cũng nghi: “Vì sao nói KHÔNG ️?”, ngồi cũng nghi: “Vì sao nói KHÔNG ️?”, mặc áo ăn cơm cũng nghi: “Vì sao nói KHÔNG ️?”, khổ vui, thuận nghịch cũng nghi: “Vì sao nói KHÔNG ️?”, cả ngày đêm mười hai thời không có khoảnh khắc nào tạm dừng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chỉ vì không chấp nhận ngài Triệu Châu nói: “Con chó không có Phật tánh”, nên chỉ cần ở chữ “KHÔNG ️” này mà đánh bại Triệu Châu, làm sao cho mọi người ghét mới thôi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Dưới đây là trình bày chỗ dụng nghi của người học, cần phải để tâm xét kỹ.
Khi dụng nghi, trước phải phát tâm phẫn nộ, nghi ngài Triệu Châu vì sao nói “KHÔNG ️”?
Tâm phẫn nộ này (nếu không phát ra tiếng thì trong tâm uất ức; nếu phát ra tiếng mà bịt miệng mũi thì âm thanh phát ra như tiếng hàng phục hổ.
Như người bị nhục, tâm nghi ngờ mà không giải quyết được đều có tiếng lòng uất ức này), hoặc nói ra, hoặc không nói ra, người học tự biết cách.
Nghi ở đây là nghi vì sao ngài Triệu Châu nói “KHÔNG ️”, chứ chẳng phải khán chữ “KHÔNG ️” của ngài Triệu Châu.
Ngày nay người học phần nhiều khán chữ “không” và niệm chữ “KHÔNG ️” này.
Thật là đáng thương xót!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người học đạt đến chỗ này thì trong lòng tỉnh táo, cần phải xem lúc bấy giờ vị Tăng này có nghi tình chăng? Lại ❓ tiếp: “Sâu bọ hàm linh đều có Phật tánh, vì sao con chó không có Phật tánh?”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Một câu này nghi thấu xương tủy.
Vị tăng cầu chết chứ không muốn sống, bức bách ngài Triệu Châu phải bình tâm, thốt ra một chữ “KHÔNG ️” muốn thâu lại thâu cũng không được.
Vị tăng ấy bấy giờ muốn chết, chết cũng không được.
Từ xưa đến nay có nghi mà không giải quyết được. Vì thế, những điều mà người trước nghi tức là điều người ngày nay nghi, điều mà người ngày nay nghi chính là nghi điều mà ngài Triệu Châu nói.
Bỗng nhiên từ khối nghi vỡ ra một tiếng, thấy biết hết tin tức bên kia&lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-13&quot;&gt;12&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;. Hãy thôi! Đừng nói nữa, nói nhiều càng xa đạo.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;9. Chỉ bổn hoàn chơn môn (Chỉ gốc về chơn)&lt;a href=&quot;#9-chỉ-bổn-hoàn-chơn-môn-chỉ-gốc-về-chơn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Vị tăng ❓ ngài Triệu Châu: “Muôn pháp về một, một về đâu?”. Ngài Triệu Châu nói: “Ta ở Thanh Châu may cái áo vải nặng bảy cân”.
Vị tăng này lại nghi không giống vị tăng kia, khiến ngài Triệu Châu phải uổng phí động miệng lưỡi lần nữa.
Nói áo nặng bảy cân thì không phải là một việc nhỏ, ý này là sao? Vì cân không đúng nên không người mua.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Xưa nay trong chốn tùng lâm phần nhiều nêu: “Muôn pháp về một, một về đâu?” “Một” này tôi không thể nói toạc ra.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sau thể hội được chỗ “về một”, sẽ khiến người học dễ rõ, dễ hiểu. Vì thế, kinh Pháp hoa ghi: “Chỉ một việc này thật, có hai thì chẳng phải chơn”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Một này chính là cội nguồn của chúng sinh, là diệu đạo của chư Phật, cũng là mẹ của muôn pháp, là chí tôn trong các thánh.
Mê nó thì không thoát được luân hồi, ngộ nó thì liễu tử thoát sinh. Lại nêu: “Muôn pháp về một, một về đâu?”.
Khi nghi, chỉ nên nghi trên chữ “một” này, “một” đó chính là tâm. (Tâm này là tâm linh tri, chứ chẳng phải quả tim, hay tâm phân biệt). Tâm tức là một (một là vua của các thánh, cho nên gọi là tâm vương). Vì sao tôi phân tích kỹ như thế? Bởi sợ người học khi mới vào đạo, thưa ❓ mà thầy không nói rõ ràng về nghi tình, người học lại không biết thứ tự thưa ❓. Vả lại, không gặp được bạn lành, rốt cuộc mặc dù nghe có thiện hữu tri thức, nhưng lại không thân gần, cầu xét đoán sự lý, dứt trừ nghi hoặc mà chấp lấy cái thấy của mình để rồi mai một đời mình, thật đáng thương xót!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vì vậy, tôi chỉ muốn người học hướng vào chữ “một” này mà khởi nghi. Đầu tiên đề cử “Muôn pháp về một, một về đâu?”
Hoặc đề cử ba, năm lần, tùy ý buông, nắm.
Sau đó không nêu “muôn pháp về một,” chỉ khởi nghi tình trên chữ “một”.
Nghi là nghi “một trở về đâu?”
Ba chữ “ trở về đâu” chính là nghiền ngẫm chữ “một” này hướng về đâu mà an thân lập mệnh.
Nhưng không nghi trên ba chữ này, chỉ khởi nghi trên chữ “một”. Nếu sợ không khởi nghi tình trên chữ “một”, thì lại đề cử “rốt cuộc một về đâu?”
Khi cử thoại đầu hoặc phát ra tiếng hay không phát ra tiếng đều được. Song không được quá gấp, cũng không được quá chậm.
Như chuông khánh, nhịp đánh chừng mực, đều đặn thì âm thanh thuận mà hòa, cốt là khởi nghi tình trên câu thoại đầu.
Dù đắc lực hay không đắc lực cũng phải thực hiện đúng như vậy.
Không được tin lời người khác, rồi cho rằng: “Không cần mở miệng cử thoại đầu”. Nếu tin lời này, bịt miệng ngăn tiếng, sau ắt có bệnh.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;10. Thuận tức miễn hoạn môn (Hơi thở thuận thì tránh được bệnh)&lt;a href=&quot;#10-thuận-tức-miễn-hoạn-môn-hơi-thở-thuận-thì-tránh-được-bệnh&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Giờ đây nói về việc người học thưa ❓ không rõ ràng, về sau mắc bệnh, làm tổn thương tâm, hại đến sức khỏe.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chính tôi thấy các huynh đệ, người nào lặng lẽ không nói, sau này phần nhiều mắc phải bệnh ói ra máu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Gạn ❓ nguyên do, anh ta cho rằng thiện hữu tri thức không bảo mở miệng cử thoại đầu.
Tôi thống thiết nói với anh ta: “Bệnh ấy chính là do khí làm tổn thương tim. Tim là chủ huyết mạch, tim không làm chủ được thì khí huyết chạy sai lạc.
Điều cốt yếu là hơi thở bình ổn, huyết mạch thư giản, bốn đại điều hòa thì đạo mạnh”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tạm đưa ra ví dụ, như ở đời có người mất một vật quý giá, ngày đêm tìm kiếm mãi, hoặc im lặng suy nghĩ, hoặc mở miệng ❓ han, hoặc buồn thương, than thở.
Sau đó hoặc gặp người chỉ cho, hoặc nhìn quanh mà tìm được. Suy cùng sự lý như thế, mở miệng, ngậm miệng, nói nín, động tịnh đâu ngại gì đến nghi tình?
Lại cùng với người học suy ngẫm đến cội nguồn của bệnh ấy, hoặc là do ăn no, gánh nặng, hoặc là do leo núi, chạy bộ. Bốn việc này là đầu mối để sinh bệnh, bốn việc này làm hơi thở ngưng trệ. Nếu không mở miệng phát ra tiếng đề cử thoại đầu, khí sẽ uất kết trong ngực, làm tổn thương thân tâm, chướng ngại nghi tình. Như thế, vọng cho là do tọa thiền sanh bệnh, há chẳng phải là oan lắm sao?&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;11. Thượng căn khí môn (Căn khí bậc thượng)&lt;a href=&quot;#11-thượng-căn-khí-môn-căn-khí-bậc-thượng&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Đoạn này nói về việc ba bậc thiện hữu tri thức nhập môn khác nhau, nhân duyên kiến đạo cũng sai biệt. Đó là có người từ kinh giáo mà ngộ đạo, hoặc có người do lực bát-nhã từ đời trước, cho nên không tham thiền mà ngộ đạo; hoặc có người do công phu tham thiền dũng mãnh chưa bao lâu mà ngộ đạo. Ba bậc thiện tri thức này chắc chắn không thể chỉ dạy công phu vi tế cho hàng sơ cơ. Nếu nói đến con đường hướng thượng của Thiền tông, tiếp hàng thượng căn thì được, còn căn cơ bậc trung, bậc hạ thì không thể. Cho nên, cổ đức nói: “Người học đạo nếu không có pháp nhãn, cần phải có con mắt du phương tham học”. Lại như Trọng Ni&lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-14&quot;&gt;13&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;nói: “Nhìn nguyên nhân ấy, xem duyên do của nó, xét chỗ an trụ của nó”. Vì vậy, khi hành cước, chúng ta cần phải có con mắt du phương tham học chân chính.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;12. Thiền lâm tĩnh lự môn (Nhà thiền tĩnh lặng)&lt;a href=&quot;#12-thiền-lâm-tĩnh-lự-môn-nhà-thiền-tĩnh-lặng&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Nay nói kỹ cương trong tòng lâm là việc tĩnh lặng ngồi thiền. Xưa nay, Phật pháp hưng thạnh, tùng lâm phát triển, trời rồng ủng hộ, thí chủ quy ngưỡng, vật dụng đủ đầy, thường trụ sung túc, nơi nơi tọa thiền thâu chúng, người người mộ đạo chuyên tu, hoặc năm ba trăm Tăng, hoặc một hai nghìn chúng. Hai chủ Đông, Tây&lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-15&quot;&gt;14&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; lo toan liệu tính, trong ngoài nhất như, trải tâm như đất. Mỗi mỗi xem nhân biết quả, người người thấy đạo sáng tâm. Ba đức, sáu vị &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-16&quot;&gt;15&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, tứ sự, bảy báu gồm đủ không thiếu. Cho nên trong Tăng đường, bồ-tát học Bát-nhã, hai bàn tay không đụng đến nước, trăm việc chẳng để lòng. Ngoài hai thời cháo cơm ra, thì chuyên tâm nơi đạo. Bậc thượng căn chẳng lìa chỗ ngồi, chỉ một lòng tham cứu Nhứt thừa, ngày đêm tỉnh táo gìn giữ chính quán, mai sau phát minh việc lớn&lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-17&quot;&gt;16&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, thành bậc đại pháp khí, thâu nhân kết quả làm bậc Tông tượng &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-18&quot;&gt;17&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;trong chốn tùng lâm, mở ra lò rèn lớn để tôi luyện người học.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hạ thủ công phu, trước tiên bước lên thiền sàng, uy nghi cốt ở tinh thành, nên ngồi kiết già ngay ngắn, mắt nhìn thẳng vào mũi, mũi thẳng với rốn, răng khít, nắm hai tay, đợi hơi thở điều hòa mới đề khởi câu thoại đầu: “Vị tăng ❓ ngài Triệu Châu: Con chó có Phật tánh KHÔNG ️?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngài Triệu Châu : “KHÔNG ️”; không cần động miệng lưỡi, lặng lẽ tham cứu, lấy sự chứng ngộ làm kỳ hạn. Đây là nói về nghi thức tọa thiền trong tùng lâm để mọi người đều biết.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;13. U cư chính mạch môn (Ẩn cư nơi chính mạch)&lt;a href=&quot;#13-u-cư-chính-mạch-môn-ẩn-cư-nơi-chính-mạch&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Đoạn này nói về chính mạch truyền thừa. Sau khi tổ Hoàng Mai &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-19&quot;&gt;18&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; qua đời, trước khi Bá Trượng kiến lập tùng lâm, hoặc ba người, năm người ở trong chốn núi rừng canh tác, trồng trọt, không có thời giờ cắt móng tay mà lúc nào cũng chăm chăm ở nơi đạo, niệm niệm không quên. Thế là, người người đều thành bậc đại pháp khí. Về sau, mỗi người một phương, thuyết pháp làm lợi ích cho chúng sinh. Khi người theo học đã đông, bấy giờ ngài Bá Trượng mới kiến lập tùng lâm. Ở đây nêu ra việc các bậc tổ sư tiền bối ẩn cư tu hành nơi núi rừng, trong gian khổ mà thực hiện công phu để mọi người đều biết.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;14. Kỳ Viên thánh chúng môn (Thánh chúng ở Kỳ Viên)&lt;a href=&quot;#14-kỳ-viên-thánh-chúng-môn-thánh-chúng-ở-kỳ-viên&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Đoạn này nói về khởi nguyên của của pháp bình đẳng.
Đó là khi Đức Phật ở tại Kỳ Viên cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo, nhất định hành khất thực là muốn giáo hóa thí chủ bỏ xan tham, tránh ba đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Thức ăn xin được trong bát chia làm ba phần: Một phần ban cho loài quỉ đói, chim thú và cá, một phần ban cho người nghèo cùng đến xin, một phần thọ dụng dưỡng thân hành đạo, cầu Phật quả Vô thượng bồ-đề.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Phật ôm bát ra khỏi Kỳ Viên, thường mang ba y, giữ gìn chính quán, mắt nhìn về phía trước sáu trửu &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-20&quot;&gt;19&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, không quay đầu, động chân cất bước nhẹ nhàng thanh thoát; buộc niệm, nhìn thẳng mà bước đi.
Cho nên, ở bất cứ nơi nào dù đông hay hạ, Phật và đại chúng đều nhập Từ tâm tam-muội này, như mọi người đều biết. Ba pháp môn này không ra ngoài Nhứt tâm.
Phật tổ tùy thời, tùy căn cơ mà có phương tiện hành đạo. Người học không nên chấp chặt một bên. Ba pháp này, mỗi mỗi tôi đều phê phán, khiến cho bốn chúng học hậu học không mắc phải mê lầm.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;15. Giác ngộ huyền tông môn (Giác ngộ tông huyền)&lt;a href=&quot;#15-giác-ngộ-huyền-tông-môn-giác-ngộ-tông-huyền&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Nếu bàn về việc này, không phải ở chỗ ngồi thiền im lặng, không phải ở chỗ cày ruộng trồng trọt, cũng không phải ở chỗ đắp y, trì bát.
Vậy hãy nói rốt ráo ở chỗ nào? (im lặng hồi lâu) Là gì? Là cái gì? Người học lãnh hội không nổi lý này, nên đề câu thoại đầu, khởi nghi như trước, không cần thuật lại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chỉ cần người học biết rõ câu thoại đầu linh hoạt, không ngưng trệ một chỗ.
Như đi, đứng, ngồi, nằm, mặc áo, ăn cơm, quét dọn, bửa củi, xách nước, đại tiểu, im lặng, động tịnh, xoay người, cúi ngước, tiếp khách, khổ vui, thuận nghịch thảy đều có đạo ở trong đó, nên tự mình phải có phương tiện mới được.
Người biết thực hiện công phu này, thí như người giỏi đá cầu, cầu chạm đầu đầu đội, chạm vai vai hất, chạm khủy tay khủy tay huých, chạm tay tay đánh, chạm gối gối tung, chạm chân chân đá.
Xoay người đá một cái vượt khỏi cầu môn, vút lên tầng trời Ba Mươi Ba &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-21&quot;&gt;20&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, thẳng đến tầng trời thứ mười tám &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-22&quot;&gt;21&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; rồi vượt qua Phạm thiên, lên tới Tứ Không thiên &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-23&quot;&gt;22&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; rồi trở lại chỗ ban đầu, cũng như vậy, không gì có thể bắt, không ai có thể ngăn.
Vì sao? Vì tất cả đều do quá linh hoạt, cho nên ba cõi nắm bắt nó không được, vô tâm giữ nó không được.
Nó có diệu dụng như vậy, tự tại như vậy, an lạc như vậy, nên chẳng lạ gì ba cõi thâu nó cũng không được, tận mười phương hư không vi trần quốc độ cũng không thâu tóm nó được, nó mặc tình đến đi không gì ngăn ngại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người học hãy nói cái ấy là trái cầu hay cái ấy là người đá cầu? Hiểu chăng, biết chăng?
Hãy thôi! Hãy thôi!
Nếu gặp A-dật-đa đích thân thọ ký, đưa ra ví dụ này, người học ngộ được không?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thông thường, tin và không tin đều xuất phát từ tâm của ông, không tin mà tin như gương chiếu gương, tâm và gương đều mất đâu cần nhọc công làm cho an tĩnh.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu bỏ có, lấy không, chấp pháp thành bệnh; trăm pháp &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-24&quot;&gt;23&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, mười huyền &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-25&quot;&gt;24&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, nghìn kinh, vạn luận dẫn dắt người học đều trở về Thập tín &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-26&quot;&gt;25&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu người thật tâm tin thì nhất định thành Phật. Hạnh giải tương ưng như ao đầm lắng trong, bóng trăng hiện rõ. Tin tánh tức tự tâm, tin tâm tức tự tánh; tánh vốn là tự tâm; tâm vốn là tự tánh, tâm tánh như như, tự tin tự kính.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;16. Quy nguyên thật tế môn (Trở về nguồn thật tế)&lt;a href=&quot;#16-quy-nguyên-thật-tế-môn-trở-về-nguồn-thật-tế&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Phần trên đã trình bày không phải là bản ý của tôi, bởi nghiên cứu tất cả Thánh điển, xem đọc các loại sách vở, nêu việc xưa, chứng nghiệm việc nay, cộng với việc thấy nghe chính xác mới thấy phần nhiều bốn chúng đều dụng tâm sai khác, kiến giải thiên lệch, tà chính không biết, đúng sai chẳng phân.
Than ôi! Sinh nhằm đời mạt pháp, cách Phật rất xa, không hiểu trước mắt vạn duyên sai biệt.
Do đó chỉ riêng người thực hành công phu, tuy tham câu thoại đầu khác nhau, nhưng chỗ dụng tâm khởi nghi không khác, tất cả thoại đầu cần nên khởi nghi.
Thế nên cổ đức nói: “Không nghi, không ngộ”, trước kia đã chẳng nói như thế sao?
Chưa ai không nghi mà thành tựu được việc lớn.
Vì thế cần đầy đủ chính tri kiến để chẳng bao giờ rơi vào trong hang ổ chồn hoang, mất đi một đời. Đâu chỉ dừng lại một đời mà đến trăm nghìn vạn đời, chủng tử bồ-đề cũng không nảy nầm.
Chúng ta ở địa vị người học không nỡ thấy nghe việc này.
Giữa hai đường, nên quyết nghi trừ mê hoặc, trước nên đem những lời cảnh chúng, những cơ duyên thí dụ trong kinh giáo và ngữ lục của Phật, tổ cùng chỗ tôi thực hành công phu đắc lực, mỗi mỗi đều đưa ra cho người học đời sau thấy.
Như ngay một lời, tâm địa khai thông; nơi một câu, tánh thiên &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-27&quot;&gt;26&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; bừng sáng, mới không phụ chí nguyện tham học một đời.
Nếu tâm địa không mở thì tánh thiên không sáng chói, mỗi mỗi nắm chặt đầu dây, rồi như con mèo vọt thẳng.
Bỗng nhiên như lại gặp bạn lành chỉ ra nhân trước. Ngay một niệm khế hợp, ngày tiêu muôn lượng vàng ròng. Ngay lúc đó, ba ác đạo đồng chứng Bồ-đề, bốn ân trọng cùng lúc đền .&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trí Triệt tôi cũng chỉ là đồng học, mong các bậc trí quan tâm dìu dắt. Thệ rằng ở đời sau ở chỗ nào cũng đồng là bạn pháp.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Kệ rằng:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Xưa nay hiếu kính, lý sự viên dung,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thể dụng song tu, thầm giúp Vương hóa &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-28&quot;&gt;27&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lời dạy Ta-la &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-29&quot;&gt;28&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, tứ chúng đều tuân&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Pháp môn sám hối, hạnh nguyện Bồ-đề&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nhớ xưa xuất trần nhờ huynh răn nhắc&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lại ngăn biếng trễ, dừng cảnh dứt mê&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Xưa nay hiếu kính, lý sự viên dung&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;Ở trên đã trình bày thứ tự động tịnh của công phu tham thoại đầu, và trình bày chi tiết về sự hoạt động hoặc nghỉ ngơi của tứ chúng mới vào đạo.
Dưới đây sẽ trình bày cho người học về căn bản, đầu cuối, nguồn gốc, chỗ đến.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thế nào là căn bản? Năm giới là căn bản. Thế nào là đầu cuối? Tâm lâu dài không thay đổi là đầu cuối. Thế nào là nguồn gốc? Việc từ kiếp Không trở về trước &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-30&quot;&gt;29&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; là nguồn gốc.
Thế nào là chỗ đến? Nơi một việc lớn này dừng là chỗ đến.
Người học muốn biết rõ nguồn gốc và chỗ đến của một việc lớn này thì nên kiên trì giữ gìn năm giới, tinh cần tu tập mười thiện, ý không dong ruổi ngoại cảnh, tâm không tán loạn, dù động hay tịnh, nhàn rỗi hay bận rộn, luôn luôn giữ chính niệm, mới có chút phần tương ưng với công phu nêu trên. Ở trên đã nói bốn chúng là tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di. Trước trình bày hai việc của người tại gia:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;1/ Đứng đầu là hiếu thuận cha mẹ, kính trọng, lục thân &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-31&quot;&gt;30&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; quyến thuộc nội ngoại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;2/ Phải biết thứ bậc cao thấp, quí tiện trong phố phường, hàng xóm; khiêm nhường, nhân từ, trên dưới hòa kính.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đây là tấm lòng người con hiếu thuận đối với cha mẹ. Người đời thường nói đến hai chữ hiếu thuận này, mà không biết lý đó rất ưu việt, rất rộng lớn.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đối với thân thì cung cấp ăn uống, y phục, giường chiếu, thuốc men, còn đối với tâm thì phải kính trọng, phụng dưỡng, hầu hạ, đó là hiếu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thuận là tùy thuận nét mặt và ý thích hợp lý của cha mẹ, làm những việc không trái ý cha mẹ.
Nếu có tâm hiếu thuận như thế, thì trên dưới hòa kính và cha mẹ an lòng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đây là đạo hiếu kính tốt đẹp ở thế gian, cũng đâu có khác lẽ trời?
Nếu lại thêm trì trai, giữ giới, niệm Phật, tham thiền, cầu pháp Đại thừa để liễu sinh thoát tử, thì thật là đại hiếu, đại thiện, thuộc về đạo xuất thế gian.
Bốn ân đã báo , ba cõi đã cứu giúp thì lo gì không báo  công ơn cha mẹ một đời sao? Dưới ✅ &lt;b&gt;Đây giải thích&lt;/b&gt; năm giới phối hợp với năm thường.
(Ngũ thường của Nho giáo)&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;①. Không sát sinh nên gọi là nhân&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;②. Không trộm cắp nên gọi là nghĩa&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;③. Không tà dâm nên gọi là lễ&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;④. Không uống rượu nên gọi là trí&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;⑤. Không vọng ngữ nên gọi là tín.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bốn chúng đã muốn niệm Phật, tham thiền, nên kiên trì giữ gìn năm giới này.
Về giới tà dâm, trong giáo lý của Đức Phật cho rằng hai chúng tại gia không thể giữ gìn trọn vẹn, nên chỉ nói giới tà dâm, để tùy thuận tu hành.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Kinh Lăng-nghiêm ghi: “Người đời không cầu xuất gia, không thể xả bỏ ân ái đối với thê thiếp, nhưng tâm không nên khởi tà dâm.
Nếu tâm lặng trong sáng tỏ, khi mạng chung được sinh về cõi trời Tứ Thiên Vương.
Nếu có thể giữ gìn trọn vẹn, không phạm, tinh tấn niệm Phật, khi lâm chung chắc chắn sẽ hóa sinh trong hoa sen ở cõi Cực Lạc, quyết không nghi ngờ”.
Giới dâm dục này hai chúng xuất gia không dám trái phạm.
Những người xuất gia thoát ly thế tục, đầu tròn áo vuông, nhập thánh siêu phàm, gọi là Tăng bảo.
Nói là “bảo”, bởi vì như châu ma-ni trong sáng, khiến người thấy thì mắt thanh tịnh, nghe thì tai thanh tịnh, nói đến thì lưỡi thanh tịnh, chạm đến thì thân thanh tịnh, còn gọi là Phúc điền tăng.
Nếu có người tán thán, cúng dường thì được phúc báu vô lượng.
Thí như một hạt giống gieo xuống ruộng tốt, thì thu hoạch vạn hạt, cho nên Tăng bảo là ruộng phúc tốt cho chúng sinh.
Do đó, người xuất gia, khởi tâm động niệm liền gọi là phá giới, kể cả giới tà dâm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Năm giới đứng đầu là sát sinh, còn năm thường đứng đầu là nhân, cho nên không sát sinh có thể gọi là nhân.
Nhân là từ, là nhẫn nại, là bác ái, thích sự sống, ghét sự chết, cho nên nói: “Thấy nó sống không nỡ thấy nó chết, nghe tiếng nó không nỡ ăn thịt nó”.
Thế nên bậc quân tử xa rời nhà bếp là chỗ sát sinh. Đây là lời răn về nhân.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nghĩa là lễ nghi, bình đẳng, đại dụng. Việc thích hợp, nên làm thì làm; vật đáng dùng, nên lấy thì lấy.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Việc bất nghĩa thì không làm, vật phi nghĩa thì không lấy, cho nên bậc quân tử thấy lợi thì nghĩ đến nghĩa.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vào thời của Khổng Tử, người ta đi trên đường không lượm của rơi. Khổng Tử nói: “Bất nghĩa mà giàu, đối với ta như mây trôi”. Đây là lời răn về nghĩa.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lễ là trung, là noi theo, là đại lễ.
Gia Ngữ nói: “Xưa ở nước Lỗ, có một người nam sống độc thân, người góa phụ ở gần cũng sống một mình, vào một đêm gió mưa bão bùng, ngôi nhà người góa phụ sụp đổ, bà ta chạy đến xin trú nhờ nhà người nam.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người kia đóng cửa không cho vào, người góa phụ oán trách: “Sao ông bất nhân không cho tôi vào?”.
Người kia trả lời: “Ta nghe rằng nam nữ chưa tới 60 tuổi không được ở chung, nay cô còn trẻ, ta cũng còn trẻ.
Đó là lý do ta không cho vào”. Người góa phụ so sánh: “Sao ông không bằng Liễu Hạ Huệ vậy?”. Người kia nói: “Liễu Hạ Huệ thì được, còn ta thì không được.
Ta muốn lấy cái không thể của ta mà học cái có thể của Liễu Hạ Huệ”.
Khổng Tử nghe lời đó nói: “Hay thay! Người muốn học theo Liễu Hạ Huệ, chưa có ai giống như vậy”.
Thế thì đâu có việc tà dâm! Đây là lời răn về Lễ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trí là huệ, là minh, là cao siêu; tri là hiểu biết, giống như mặt trời vậy.
Người có hiểu biết, như trên hư không có mặt trời.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Dưới chữ tri (知), viết chữ nhật (日) là chữ trí (智).
Mặt trời trí huệ trên không, soi sáng tất cả chỗ tối tăm.
Vì thế, do uống rượu làm hôn loạn chân tánh thì tâm trí huệ không tỏ.
Mây che thì mặt trời trí huệ không sáng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cho nên, kinh nói: “Uống rượu là phạm 36 trường hợp mất công đức”.
Cho nên, trong kinh Thư cũng nghiêm cấm uống rượu.
Hi Hòa &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-32&quot;&gt;31&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; đam mê rượu, làm nhục thân bại đức, cho nên vua Vũ ghét rượu ngon mà thích nghe điều thiện.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lương Võ Đế, 46 năm không nếm ngũ tân &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-33&quot;&gt;32&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; và rượu nồng.
Vua cho rằng: “Không uống rượu thì không bị hôn mê làm chướng”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Khổng Tử nói: “Không bị rượu làm khốn đốn”.
Tất cả đều cho rượu làm mờ tâm, loạn tánh.
Các bậc thánh đều ngăn uống rượu. Đây là lời răn về trí.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tín là thành, thật, chân. Xưa có hai bậc hiền sĩ họ Phạm và họ Trương, trên đường đi xa nghìn dặm, ước hẹn với nhau nửa năm gặp lại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Họ Phạm nói: “Ngày 15 tháng 9 sẽ đến hầu chuyện”. Họ Trương chuẩn bị tiệc đãi khách. Đúng ngày họ Phạm đến, là bậc quân tử chân thành, nên không nói dối. Đây là lời răn về tín.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lời răn về năm thường là điều thiện để sửa trị thế gian, thuận theo lẽ trời mà làm, giữ đạo thiện đến chết.
Nếu có chút sai lầm thì tán thân mất đức, không có đạo thiện xứng đáng để làm gương cho người đời sau.
Huống gì trong giáo pháp của ta, bốn chúng đều niệm Phật, tham thiền, muốn cầu diệu đạo vô thượng!
Đó là đại thiện, đại nhân duyên xuất thế gian, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, đến bờ niết-bàn đại an lạc. Nếu người không tuân thủ năm giới này mà muốn thoát luân hồi đến bờ niết-bàn thì không thể nào được.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;17. Thể dụng song tu, âm dực vương hóa (Thể dụng song tu, thầm giúp vua trị quốc)&lt;a href=&quot;#17-thể-dụng-song-tu-âm-dực-vương-hóa-thể-dụng-song-tu-thầm-giúp-vua-trị-quốc&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Đoạn này nói về công đức của mười thiện.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Mười thiện vốn đồng thể với mười ác, chỉ theo duyên nhiễm tịnh mà có tên gọi khác, như nắm tay-xòe tay, chỉ một thể mà tác dụng là ở nơi buông-nắm của con người.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Buông là mười ác, nắm là mười thiện.
Mười ác gồm ba nghiệp ác thuộc về thân: sát sinh, trộm cắp, dâm dục; bốn nghiệp ác thuộc về khẩu: nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, nói ác độc; ba nghiệp ác thuộc về ý: tham lam, sân hận, si mê.
Dứt mười ác, tức có mười thiện.
Năm giới là thể, mười thiện là dụng. Thí như mọi người đều có thân, nhất định dùng tay chân.
Nếu thân không có tay chân thì làm sao hoạt động được, tay chân không có thân thì gá vào đâu?
Tay chân nương vào thân thể, phát động tác dụng đến muôn pháp, an lập thế giới. Việc này rõ ràng không đáng nghi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người học nhất định lấy năm giới làm thể, mười thiện làm dụng. Thể-dụng song hành mới thành tựu Phật sự.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu tất cả người đời chuyên trì năm giới, tinh ròng mười thiện, trong các việc nghề nghiệp, kinh doanh, sinh hoạt luôn gìn giữ bản thân, điều tiết sinh hoạt, hiếu dưỡng cha mẹ, thì việc này cảm đến tám bộ &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-34&quot;&gt;33&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;:  trời, rồng, v.v … xuống Diêm-phù-đề để ủng hộ thế gian, mưa thuận gió hòa, mùa màng sung túc, thiên hạ thái bình, muôn dân lạc nghiệp.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nay lấy điều thiện này nguyện cho bậc trị quốc lấy bốn biển làm nhà, lấy nhân dân làm con, để giềng mối quốc gia được chấn hưng mạnh mẽ; các nước đến giao hảo, đạo đức tiếng tăm vang khắp, mười phương quy thuận, không thi hành những hình pháp mà tự nhiên đạt đến thái bình, phúc thọ vô cùng, non sông một mối; cành vàng xinh đẹp, lá ngọc tỏa thơm; ngọn gió Nghiêu&lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-35&quot;&gt;34&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; mãi mãi lan xa, mặt trời Thuấn&lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-36&quot;&gt;35&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; luôn luôn sáng tỏ.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;18. Song lâm di giới chúng đẳng tôn y (Lời di huấn ở rừng Ta-la mọi người tuân theo)&lt;a href=&quot;#18-song-lâm-di-giới-chúng-đẳng-tôn-y-lời-di-huấn-ở-rừng-ta-la-mọi-người-tuân-theo&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Kinh nói: “Không trì năm giới trì thì cắt đứt con đường nhân, thiên”. Năm giới là đầu tiên của các giới, đứng đầu của muôn thiện.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Kinh lại nói: “Giống như làm nhà, trước phải xây nền móng kiên cố. Nếu xây nền trên hư không thì không bao giờ thành tựu”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Xưa kia ở Song Lâm, lúc sắp nhập Niết-bàn, Thế Tôn nói với đại chúng trời người: “Sau khi ta diệt độ các ông nên nương vào ba-la-đề-mộc-xoa, đó là thầy của các ông”. Ba-la-đề-mộc-xoa tức là giới này.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn không chỉ nói sự trì giới này cho đại chúng trời người ở hội Niết-bàn nghe mà còn cho cả chúng ta ngày nay nữa. Giới này Phật Phật trao nhận, Tổ Tổ truyền nhau.
Người học muốn niệm Phật, tham thiền để thấu tỏ việc lớn, thì cần phải tuân thủ giới này.
Nhất thiết không thể nghe bọn tà sư, kẻ tà kiến cho rằng nói dối, uống rượu, ăn thịt không chướng ngại Bồ-đề; trộm cắp, hành dâm không phương hại đến bát-nhã.
Họ là tội nhân ở điạ ngục, la-sát, quyến thuộc của ác quỷ, chẳng phải đệ tử Phật, trộm bàn pháp môn, vọng nói bát-nhã, làm bại hoại niềm tin thuần thiện của mọi người, cắt đứt huệ mạng chư Phật, những người đó sẽ đọa địa ngục Vô Gián, vĩnh viễn không có ngày ra.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người học trong bốn chúng đã vào pháp môn chân chính, cần đầy đủ kiến giải chân chính. Cho nên kinh nói: “Thân người khó được, chính pháp khó gặp.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngày nay may mắn được thân người, lại gặp chính pháp, nếu thấy kẻ tà kiến như thế, cần phải có con mắt sáng suốt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tại sao tôi phải nhọc sức nêu việc này? Vì e rằng người sơ cơ học đạo chưa hoàn toàn có lòng tin chân chính gặp phải những người cho tà pháp là chính, cho chính pháp là tà, sao chép kinh điển thì đoạn trước đặt ra sau, đoạn sau để lên trước, lời nói không chính xác, khiến cho người nghe theo những lời cuồng này, không hiểu, không biết, buông lung thân tâm.
Như đổ dầu vào bột mì, thì không thể phân ra được, khiến phải lầm lạc một đời; lại đâu chỉ một đời mà vĩnh viễn trăm kiếp, nghìn đời là con cháu của ma. Thật đáng thương xót thay!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi đã từng thấy bọn người này, họ ngậm miệng, đớ lưỡi, không có lời để thi thố, chỉ chắp tay, xoay người chạy xa.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vì sao? Vì đến chỗ này thì không có cửa để vào, không có nơi để dừng chân, không có chốn để lập thân, không có chỗ để mở miệng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vì sao? Vì tà không phạm đến chính. Há không nghe Cổ đức nói: “Bản lãnh của các ông có hạn, việc không thể nói của ta thì vô cùng”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đúng thay lời nói ấy! Trước đã nói về năm giới. Ngăn tà, dừng ác nên gọi là giới.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;19. Pháp môn sám hối, hạnh nguyện Bồ-đề&lt;a href=&quot;#19-pháp-môn-sám-hối-hạnh-nguyện-bồ-đề&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Một ngày sáu thời, người học nên đến trước tượng Phật, Bồ-tát, năm vóc sát đất, đốt nén hương tỏ bày sám hối.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngay đó thỉnh Tam bảo chứng minh, xưng tên và pháp danh, quỳ dài chấp tay thỉnh cầu:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Qui y tất cả chư Phật trong vi trần cõi nước ở khắp mười phương hư không.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Quy y tất cả tôn pháp trong vi trần cõi nước ở khắp mười phương hư không.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Quy y tất cả hiền thánh tăng trong vi trần cõi nước ở khắp mười phương hư không.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cúi xin Tam bảo chẳng bỏ lòng từ, xót thương giáng lâm chứng minh sám hối.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Con tên…….. từ vô thỉ cho đến ngày nay, nghiệp chướng nhiều đời, tội lỗi nhiều kiếp, ba độc vô minh, mười ác chướng nặng, tạo ra vô lượng vô biên tội ác, bất khả thuyết, bất khả thuyết, bất khả thuyết chuyển &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-37&quot;&gt;36&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hôm nay, chúng con gội rửa thân tâm, đối trước mười phương các Đức Phật, các đại bồ-tát, Đại từ bi phụ linh cảm Quán Thế Âm bồ-tát, thánh chúng, năm vóc sát đất, tỏ bày sám hối, một lòng nương tựa, hằng hà sa tội diệt.
(hai câu trên đây đọc lại ba lần.)
Chỉ xin các Đức Phật, các đại bồ-tát dùng thiên nhãn thấy xa, thiên nhĩ nghe xa, và tha tâm nhanh chóng chiếu soi, gia hộ chúng con tu hành theo thứ tự, tiến đạo không ma chướng, sớm sáng tỏ trí bát-nhã, không lui sụt tâm Bồ-đề, sáu căn thanh tịnh, mọi lo lắng đều tiêu, một niệm vô vi, mười phương quét sạch, siêu việt ba cõi, sớm lên bờ giác, vượt thoát tứ sinh, mau đến Bồ-đề.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu đời nay chúng con duyên mỏng, đạo nghiệp chưa thành, thọ mạng ngắn ngũi, khi vô thường đến, nguyện nương theo lực bát-nhã, được chính niệm hiện tiền, tâm không điên đảo, theo nguyện vãng sinh cõi Phật.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sau đó đảnh lễ Phật, bồ-tát và được các Ngài đích thân dạy bảo, y theo nguyện tu hành, vẫn trở lại thế giới Ta-bà, sinh làm thân nam trong nhà trưởng giả, tu mười điều thiện, giàu có ở đô thị, không quên đời trước, chỉ mong cha mẹ không có tâm lưu luyến, cho con xuất gia. Tuổi nhỏ vào đạo, trí tuệ hơn người, sớm gặp minh sư, tham thiền học đạo, tinh thông giáo điển, thấu suốt kinh Phật, chỉ học Thượng thừa, chuyên ròng yếu chỉ, hoặc ngay một lời mà thấy suốt nhân nhiều kiếp.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hoặc trong một câu mà thấu triệt quả nhiều đời, sáng suốt tỏ rõ, đến đi tự tại, tùy ý thác sinh cõi Phật, cõi trời, báo  bốn ân, cứu giúp ba cõi, pháp giới hữu tình đồng thành chủng trí.
Xin chư Phật chứng minh, mười phương ba đời tất cả các Đức Phật, các vị bồ-tát ma-ha-tát, Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi nêu những việc thông thường để hướng dẫn hàng sơ cơ, kính nhờ những bậc cao minh trình bày lại cho đàn hậu học.
Thẹn vì ngôn từ nhiều mà nghĩa lý còn chưa tỏ, thành thật kính mong các thiện hữu đính chính để người thấy nghe tùy hỉ, đều bước lên thuyền từ bát-nhã, khen ngợi tán dương, cùng chứng Bồ-đề.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;20. Ức tích xuất trần thừa huynh cảnh giới (Nhớ xưa xuất trần nhận lời dạy của người anh)&lt;a href=&quot;#20-ức-tích-xuất-trần-thừa-huynh-cảnh-giới-nhớ-xưa-xuất-trần-nhận-lời-dạy-của-người-anh&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Từ năm Ất Hợi niên hiệu Nguyên Thống thứ ba (1335), Trí Triệt tôi đã thọ năm giới tại gia, đến tháng 5 năm Canh Thìn (1340) vào chùa, mùng 8 tháng 12 xuống tóc làm tăng, đảnh lễ cầu hòa thượng Vân Phong làm thầy.
Ngày rời nhà, nhận lời dặn dò ân cần của người anh kế là cư sĩ Lê Thập: “Việc xuất gia chẳng phải là nhân duyên nhỏ, là việc nhập thánh siêu phàm, nối tiếp huệ mạng chư Phật.
Đây là việc của bậc đại trượng phu, nên phải gắng sức làm.
Nay em đã dám xa lìa cha mẹ anh em, vứt bỏ vợ con gia nghiệp mà lại không nghe Cổ đức nói: “Một người xuất gia, chín đời &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-38&quot;&gt;37&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; được sinh thiên” ư? Lời nói này nhất định là thật.
Đã là thật mà anh thấy trước mắt biết bao nhiêu người xuất gia, tất cả việc làm của họ đều chỉ mong muốn chín đời sinh thiên thì nhất định không thể được!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Em đã xuất gia phải nên lập chí, chớ giống những vị tăng tầm thường, tâm ý dong ruổi, chạy đông, chạy tây, cầu danh trục lợi, luống uổng thời gian; cũng chớ tranh nhân-ngã, bàn luận phải trái, không khen mình chê người.
Khi bị đánh thì đương đầu nhẫn chịu, bị nhổ nước bọt lên mặt thì không cần lau chùi (bị sỉ nhục không cần giải bày); chớ buông lung ngủ nghỉ, chớ tham cầu uống ăn, việc đời nhiều thứ không thể kể xiết.
Rời khỏi nhà đi bước đầu tiên, nhấc chân, đặt chân, đi, đứng, ngồi, nằm đều phải nhớ kỹ câu thoại đầu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu quên câu thoại đầu thì cô phụ sự che chở của quốc vương, đất nước và cô phụ thí chủ đã cung cấp tứ sự: ăn uống, quần áo, mền chiếu, thuốc men.
Giữ thoại đầu này, cùng sống cùng chết với nó, phát chí nguyện lớn, chỉ nên hiểu một đại sự nhân duyên này mới không phụ chí nguyện xuất gia tham học của em.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cho nên kinh nói: ‘Báo  hết bốn ân, cứu giúp thảy ba cõi, lo gì không báo  ân cha mẹ hiện tại và chín đời?’.
Đã ở trong cõi khổ nhiều, vui ít, dù có sở đắc, hoặc không sở đắc, cũng phải giữ gìn thoại đầu.
Nếu có chỗ nhập môn an lạc thì nhất định trở về chỉ dạy quyến thuộc”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trí Triệt tôi mặc nhiên tiếp thu lời dạy trên. Vừa ra khỏi cửa vài bước thì cư sĩ vẫy tay nói: “Một trở về đâu?”.
Tôi quay đầu chắp tay bái tạ, thầm nhận rồi đi.
Tôi khắc cốt ghi tâm, đến nay không dám quên.
Những lời dặn dò việc đời, răn nhắc công phu, chi tiết từng điều có thứ tự, nếu ghi chép hết lời nhỏ nhặt ra thì rất nhiều.
Ở đây, lược ghi vào cuối sách này vậy.&lt;/p&gt;
⚡️⛩⚡️
&lt;h2&gt;21. Phục trừng giải nọa, chỉ cảnh, tức mê (Lại răn nhắc sự giải đãi, dừng cảnh, dứt mê)&lt;a href=&quot;#21-phục-trừng-giải-nọa-chỉ-cảnh-tức-mê-lại-răn-nhắc-sự-giải-đãi-dừng-cảnh-dứt-mê&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Ở đây tiếp tục nói đến việc đã đề cập ở trên.
Trong cuộc đàm đạo vào đêm Tự tứ &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-39&quot;&gt;38&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, tại thiền đường ở sơn phòng &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-40&quot;&gt;39&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, thủ tọa &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-41&quot;&gt;40&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; Độn Cơ thốt lời cảm thương người học: “Gần đây xã hội chuyển biến, lòng người thay đổi rất nhiều, Phật pháp suy vi, chùa chiền hoang phế, thiện tri thức không xuất hiện, nên không thể tìm được người có chính tri kiến khai thị con đường thẳng tắt pháp môn Niệm Phật, Tham thiền cho bốn chúng hiện tiền học Phật”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Do đó đến thưa với tôi rằng: “Xin hòa thượng ghi lại thứ lớp cảnh giới công phu đắc lực trước đây của mình và lời răn dạy từ người anh ruột trong ngày xuất gia để chỉ bày cho người sơ cơ học đạo, giúp họ thêm tinh tấn.
Được vậy thì thật là may mắn!”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi trả lời: “Từ xưa đến nay có rất nhiều pháp ngữ dạy chúng của bậc tôn túc và thiện tri thức mà chúng sinh còn chưa tin.
Huống gì tôi xuất gia muộn màng, hạnh giải nông cạn, luống uổng cửa Không, chẳng giúp ích gì cho giáo pháp! Tuy để tâm lâu ngày trong pháp môn, nhưng chưa đạt đến chỗ tột cùng của lý đạo.
Tự thẹn lời lẽ tầm thường, đức hạnh mỏng manh, việc này đâu dám vâng làm!”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thủ tọa nói tiếp: “Người học bây giờ, có kẻ thích nghe nhiều, có kẻ căn tánh chậm lụt, xem những lời răn dạy của bậc tôn túc xưa kia mà cho rằng: “Sức trí tuệ của bậc thiện tri thức ấy có gốc rễ sâu dày, mới vào đạo không cần gia công, chỉ vừa nghe liền liễu ngộ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Căn cơ nông cạn như chúng ta không thể làm được.
Ngày nay, chúng ta hãy gieo hạt giống bát-nhã, đợi kết quả ở đời sau”. Văn Mẫn tôi thấy rất nhiều người nói như thế, thật đáng thương cho họ đã tự sinh tâm thoái lui.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu đem chỗ công phu miên mật trước kia của Hòa thượng trình bày qua một lần cho người thấy nghe, nhất định họ sẽ khai phát tín tâm, rồi như thế mà dụng công, tinh tấn và đạt đến rốt ráo.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu như trong tứ chúng ở đời sau, mỗi người có chứng đắc, liễu sinh thoát tử thì ân đó chẳng lớn sao?”.
Tuy Thủ tọa hết lòng vì người học, nhưng tôi thật chưa dám gánh vác.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hôm sau, thời cháo sáng xong, tôi lên phương trượng của hòa thượng Cổ Đạo thăm ❓.
Hòa thượng và tôi đã 17 năm thâm tình. Nhân đó, tôi nêu ra những việc thủ tọa Độn Cơ đã nói.
Hòa thượng cũng cho rằng: “Phật pháp đang đứng bên bờ nguy khốn, nên việc này sẽ là khuôn mẫu cho hàng sơ cơ học đạo”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi liền : “Người tự cứu mình chưa được thì làm sao có thể cứu người khác.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Kinh có ghi rõ: Bản thân mình không tinh tấn thì làm sao khuyên người khác tinh tấn được”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hòa thượng lại nói: “Trong kinh cũng nói: “Mình chưa độ mà độ người là bồ-tát phát tâm”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bậc tiên nho cũng nói: “Đâu nỡ ngồi yên nhìn hơn thua, thấy nghiêng mà không giữ, ngã mà không đỡ”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi từ chối không được, quay về sơn phòng, khơi thông sáu căn, mở lộ mắt tuệ, tự tại tiêu diêu, không trói, không buộc; bẽ gãy khóa xích tâm viên, mở toang cửa ngăn ý mã, mặc tình đến đi không ngại, từ đây hoàn toàn vui sướng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thế là không nỡ an nhàn, cho nên đề khởi công án cũ mục đã tham cứu trước kia, náo loạn người học một phen!
Nhưng dùng chính nhãn quan sát khắp thì lại là đất bằng mà nổi sóng gió, nắm lấy tay chân người học đánh đập lung tung, khiến cho họ không có chỗ thi thố.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đến đây lại cần phải chấn chỉnh an định cho họ. Chỗ chân thật liền bảo là chân thật.
Hãy nói việc chân thật này, làm sao giao phó cho người học? Tỉnh táo nắm ngay việc chân thật.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Mỗi mỗi hãy nỗ lực đảm đương và ghi nhớ câu “Vạn pháp trở về một, một trở về đâu?”.
Bắt đầu hôm nay, từ sáng đến tối từ tối đến sáng, lên giường xuống giường, ra cửa vào nhà, động tịnh, nhàn rỗi bận rộn đều nên đề cử câu thoại đầu miên mật, không gián đoạn, nói nín tùy ý.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu đến nơi lễ Phật thì buông ngay câu thoại đầu, chí thành phát nguyện sám hối, nguyện xong đến đoạn Ba-la-mật thì tiếp tục đề khởi thoại đầu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hoặc tụng kinh, khi hết quyển, đến đoạn Ba-la-mật cũng y như trước.
Hoặc lúc công việc bận rộn thì tự xem xét bản thân.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lại nói với người học: Văn tự, lời nói không thể diễn tả hết những cảnh giới khi tham thiền, nên chỉ lược nói ra đây.
Nếu bàn luận đến chỗ sinh khởi cảnh duyên thì tất cả đều xuất phát từ tâm, nếu tâm không sinh thì cảnh từ đâu khởi?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nên kinh nói: “Tất cả biển nghiệp chướng đều từ vọng tưởng sinh”. Lại nói: “Hễ có tướng đều là hư vọng”.
Lại nói: “Không bao giờ nên nắm bắt tất cả cảnh giới”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi thấy đa số người học nghe nói đến cảnh giới là có, thì sinh hoan hỷ, nếu nói cảnh giới hư vọng không thật, liền sinh phiền não. Cảnh giới đều từ hôn trầm, tán loạn khởi lên.
Hôn trầm do tâm lười biếng mà có, tán loạn do tâm phóng túng mà sinh. Tâm lười biếng là nguồn của hôn trầm, tâm phóng túng là gốc của tán loạn.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Do đó, nếu hôn trầm thì cảnh sai biệt, tán loạn thì thể khác nhau, đều từ vọng tưởng trong khoảnh khắc mà biến hóa vô số.
Nếu tâm không vọng động thì đâu như thế? Khi hai tâm này phát sinh, liền từ chỗ ngồi đứng dậy phấn chấn tinh thần, khiến cho thân tâm thoải mái, đề khởi thoại đầu, dõng mãnh khởi nghi tình thì niệm này liền tiêu mất.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu có người không tin lời nói này, họ lại dẫn chứng kinh Lăng-nghiêm, cho là thật có năm mươi loại ấm ma. Há không nghe Thế Tôn nói với ngài A-nan, 50 loại ấm ma này đều là năm uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành, thức do vọng tưởng mà thành. Khách trần che lấp chủ nhân, nếu mê thì khách thừa cơ hội nhảy vào quấy nhiễu&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đến đây quét sạch kiến chấp phàm thánh, quét hết dấu vết cho người học. Hãy nói cái gì là chủ? Đó là “vạn pháp về một, một về đâu?”.
Cái gì là khách? Đó là vừa động tâm, phiền não liền dấy khởi. Chỗ này, tuy thể không hai, nhưng dụng chẳng phải một.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hoặc có người tham chữ “không”, hoặc có người tham câu “bản lai diện mục”, hoặc có người tham cứu câu “niệm Phật là ai ?”, công án tuy có khác nhưng chỗ nghi chẳng khác.
Cho nên kinh nói: “Trở về nguồn thì tính không hai, nhưng phương tiện có nhiều cửa”. Vì thế, người học gìn giữ câu thoại đầu của mình, dõng mãnh dồn ép, khi đến chỗ không dồn ép nữa thì bỗng nhiên toàn thân thấu suốt, đến thẳng bờ kia, lên cô phong &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-42&quot;&gt;41&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; cất am tranh, quở Phật, mắng Tổ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu đạt đến mức độ nầy, nói cảnh giới Phật là cảnh giới ma cũng được, nói cảnh giới ma là cảnh giới Phật cũng được. Cho nên nói: Hành động nghịch, mà giáo hóa thuận, quỷ thần không thể lường được việc làm của người này.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu chưa đạt được như thế thì “Rất cấm kỵ, rất cấm kỵ! Muốn không chiêu cảm nghiệp vô gián, chớ nên phỉ báng chính pháp luân”. Người học nên thận trọng !&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu công phu có một ít thâm nhập, biết được cái sáng tỏ mầu nhiệm thường hiện trước mắt, chạm nó cũng không tan, quét nó cũng không mất, lại cũng không nên chấp trước.
Nếu ông chấp bóng dáng thần thức này là sự thật, thì bị nó dẫn vào trong tình kiến, khởi tâm cống cao, ngã mạn, không thể tiến lên, mở to miệng luôn oang oang nói càn bát-nhã, nói Phật cũng chỉ như thế, tổ cũng chỉ như thế! Lại dẫn kinh nói: Pháp ấy bình đẳng, nhất ấn ấn định”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Rồi nói: “Người đại ngộ không chấp những việc nhỏ nhặt.
Đạt đến đây thì không có giới để giữ, cũng không có giới để phá”, rồi cho đó là cảnh giới Đại thừa mà không hiểu, không biết mình đang rơi vào quyến thuộc của ma, tự lầm và làm cho người lầm, không đáng thương xót sao? Kinh nói: “Người như thế dù có nhiều thiền định, trí tuệ nhất định cũng rơi vào ma đạo, thượng phẩm làm ma vương, trung phẩm làm dân ma, hạ phẩm làm ma nữ”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người học rất kỵ điều này, không thể cho một chút sở ngộ của mình là đủ. Thận trọng, thận trọng!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong bốn chúng hậu học, nếu có người tỏ ngộ, xin xem trong Thiền yếu của hòa thượng Cao Phong.
Trong đó có đoạn hòa thượng Tuyết Nham ❓ hòa thượng Cao Phong làm chủ được chăng? ❓ đến lần thứ ba thì cần phải suy xét lại kỹ càng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu không vượt qua chỗ ấy thì hãy buông bỏ chỗ tỏ ngộ ấy đi, rồi đem chỗ nghi của Hòa thượng để mọi người cũng nghi (chỗ này không cần ghi lại, trong Tịnh độ huyền văn đã có ghi chép).
Công phu đến đây cần phải giữ gìn. Cho nên nói: “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, không nên tạo nghiệp mới”.
Nếu như trời lại ấm áp, vạn loại đều sinh trưởng, ân đức thấm nhuần thì công phu không uổng phí.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trên đã nói các việc trong lúc thực hành công phu, trộm lấy những điều quan trọng trong kinh giáo và ngữ lục làm chứng cứ cho người học.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Những việc này vốn chẳng phải của tôi, tôi chỉ được Thủy mẫu thiền &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-43&quot;&gt;42&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, liền cùng với những người đồng đạo nắm tay mà đi, tham cứu con đường xuất thân, vừa có chỗ không tương ưng thì nhất định chẳng dám bỏ qua.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cho nên Tử Cống ❓ về đạo bạn bè, Khổng Tử  rằng: “Chân thành khuyên bảo rồi khéo léo chỉ bày cho bạn”. Tôi không tiếc lời với những người bạn chân chính, thôi thúc khiến họ tiến đến trước, không được chần chừ. Nếu người có lòng tin cạn cợt, thật khó ở chung, lại muốn luận bàn về chỗ không thấu hiểu của bậc tiền bối thì hãy truy xét tận cùng gốc rễ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vì sao? Vì cha mà không có người con thành thật can ngăn thì gia đạo bị suy? Nên tôi ôm nhiều nỗi bất bình cho tăng và tục. Mỗi khi gặp người nói và làm không hợp lẽ đạo, tôi thẳng thừng phân tích cho họ nghe đến chỗ rõ ràng thì mới vừa lòng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đến như phần mình, công phu rơi vào chỗ mơ mơ màng màng, đạo lực chưa thành tựu.
Bỗng nhiên, thời gian trôi qua nhanh, già bệnh thôi thúc, mới tự gắng công thì ngày chết đã gần.
Than ôi! Chỉ xin người đồng học, ai nấy đều mến đạo, mỗi mỗi đạt đến lẽ huyền, tỏ ngộ bản tâm, thề đời đời làm pháp lữ.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;TÔNG CHỈ PHÁI LÂM TẾ&lt;a href=&quot;#tông-chỉ-phái-lâm-tế&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Sa-môn Huệ Hồng ở am Minh Bạch soạn&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thiền sư &lt;strong&gt;Phần Dương Thiện Chiêu&lt;/strong&gt; dạy chúng rằng:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bậc thánh xưa nói: Một câu có đủ Tam huyền &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-44&quot;&gt;43&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, trong mỗi Huyền cần đầy đủ Tam yếu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thế nào là câu Tam huyền, Tam yếu? Hãy mau chóng lãnh hội, mỗi mỗi tự suy ngẫm đã được thỏa đáng hay chưa?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Các bậc cổ đức đi hành cước &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-45&quot;&gt;44&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, khi nghe một nhân duyên &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-46&quot;&gt;45&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; mà chưa tỏ ngộ thì ăn không ngon, ngủ không yên, khẩn cấp giải quyết.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đâu thể cho là việc nhỏ? Vì thế Đức Phật xuất hiện ở thế gian là vì một Đại sự nhân duyên &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-47&quot;&gt;46&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Xét ra những bậc cổ đức từ xưa đến nay, hành cước không phải để du sơn, ngoạn thủy; không phải để ngắm những cảnh xa hoa ở đô thị; không phải vì miếng cơm, manh áo mà đều vì chưa tỏ ngộ tâm Thánh.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sở dĩ họ dong ruổi hành cước là vì giải quyết những chỗ sâu kín, xiển dương giáo pháp, thưa ❓ bậc tiền bối, gần gũi bậc cao đức; vì giữ gìn đèn Phật tâm, nối tiếp giống Phật tổ, hưng thịnh giòng Thánh, tiếp dẫn người sau, tự lợi lợi người mà không quên hành nghi của chư tổ. Như ngày nay có ai thương lượng chăng? Nếu có, hãy bước ra cùng đại chúng thương lượng!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vị tăng ❓: Thế nào là câu tiếp dẫn người sơ cơ?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Ông là vị tăng hành cước.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;❓: Thế nào là câu phân biệt nạp tăng?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Mặt trời mọc ở hướng tây vào giờ mão.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;❓ tiếp: Thế nào là câu Chính lệnh hành &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-48&quot;&gt;47&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Nghìn dặm mang đến để trình mặt mũi xưa nay.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;❓: Thế nào là câu thành lập trời đất?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Lúa Bắc-cu-lô châu, người ăn thì không giận cũng không vui.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sư nói: Chỉ đem bốn chuyển ngữ &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-49&quot;&gt;48&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; này mà nghiệm nạp tăng trong thiên hạ. Cho nên, vừa thấy ông đưa ra thì đã biết rồi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tăng ❓: Thế nào là chỗ dụng công của người học?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Gia Châu đánh pho tượng lớn.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;❓: Thế nào là chỗ chuyển thân của người học?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Thiểm Phủ tắm trâu sắt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;❓: Thế nào là chỗ thân thiết của người học?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Tây Hà vờn sư tử.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sư nói: &lt;strong&gt;Nếu người nào lãnh hội ba câu này thì đã phân biệt được Tam huyền. Lại còn có Tam yếu, cần phải biết rõ, không nên bỏ qua.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sư tụng kệ:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Tam huyền Tam yếu thật khó phân&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Được ý quên lời đạo dễ gần&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Một câu thấu suốt trùm vạn tượng&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tiết trùng dương &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-50&quot;&gt;49&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; đến cúc tươi nhuần&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Lãnh hội chăng? Nếu lãnh hội được thì không phải là nạp tăng nóng tính. Còn về nhân duyên Tam huyền, Ông lãnh hội được chăng?
Chỉ cần lãnh hội được ý chỉ của người xưa thì tự tâm sáng tỏ, lại được biến thông cùng khắp,
tự tại thọ dụng vô cùng, đó gọi là tự thọ dụng thân Phật, không cần người khác dạy mà cũng biết kế sống nhà mình &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-51&quot;&gt;50&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Do đó ngài Nam Tuyền nói: “Vương lão sư &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-52&quot;&gt;51&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; hơn 80 tuổi mới hiểu kế sống”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tăng ❓ tiếp: Người xưa 80 tuổi mới hiểu kế sống, nhưng chưa biết tạo kế sống gì?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Hai con trâu đực, hai sừng không cong.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lại nói: Nếu muốn tỏ ngộ việc này, chỉ cần đạt chỉ thú Tam huyền, lúc ấy thọ dụng tự tại, nhà mình khóai lạc, sung sướng một đời.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bậc đại trượng phu chớ tự cô phụ, gặp việc không thông, không ích lợi gì cho người. Ta nói cho ông và mọi người nghe:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;① &lt;strong&gt;Huyền thứ I&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Pháp giới rộng vô biên,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sum la và vạn tượng&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đều hiện đủ trong gương.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;② &lt;strong&gt;Huyền thứ II&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Thích-ca ❓ A-nan,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;A-nan theo việc ,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bình bát thể vuông tròn.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;③ &lt;strong&gt;Huyền thứ III&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Chỉ hiện trước vua xưa,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngoài tứ cú bách phi &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-53&quot;&gt;52&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lư Thị &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-54&quot;&gt;53&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; ❓ Phong Can &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-55&quot;&gt;54&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;Sư nói: “Đây là bài tụng về Tam huyền. Còn thế nào là ý thú Tam huyền? Dầu cho ông phân biệt rõ ràng đi nữa, cùng chỉ hiểu một cách sai lầm, không căn cứ.
Ta từng gần gũi hòa thượng và đã nghe dạy: “Ví như dùng lời hư dối, lừa gạt người khác, có ngày ăn gậy sắt, chớ bảo rằng ta không nói trước”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lại nhân việc hái hoa cúc, Sư bảo chúng rằng: “Hoa vàng khắp đất, nhụy ngọc rợp trời, mặt trời trên không, càn khôn sáng rực, mây giăng làm mưa, lộ kết thành sương, không làm tổn vật, hại nghĩa.
Thử nói một câu được không? Nếu nói không được, tức trong mắt có bụi, cần phải lấy ra mới được”.
Do đó, ngài Phong Huyệt nói: “Nếu lập một trần, đất nước hưng thịnh, kẻ quê mùa lo buồn.
Không lập một trần, đất nước suy vong, kẻ quê mùa an vui”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngay đây tỏ ngộ thì xà-lê không có phần, toàn là phần của lão tăng. Ngay đây mà tỏ ngộ thì lão tăng chính là xà-lê.
Lão tăng với xà-lê cũng có thể khai ngộ người trong thiên hạ, cũng có thể che mắt người trong thiên hạ.
Ông muốn biết lão tăng và xà-lê ở đâu chăng?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sư vỗ đùi nói rằng: “Đây là Xà-lê! Đây là lão tăng”. Lại ❓ các Thượng tọa: “Lão tăng và xà-lê giống hay khác.
Nếu nói giống thì thượng tọa tự là thượng tọa, lão tăng tự là lão tăng.
Nếu nói là khác, thì lão tăng chính là xà-lê”.
Nếu ngay đây mà hiểu được thì trong một câu có Tam huyền, Tam yếu, Chủ khách rõ ràng, việc bình sinh giải quyết xong, hoàn tất việc tham cứu.
Cho nên, Vĩnh Gia Huyền Giác nói: “Xương tan thịt nát cũng đền, thấu rõ được một câu, vượt tất cả”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lại nói hai vị Thủ tọa ở hai nhà tăng, một hôm gặp nhau cùng hét.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vị Tăng ❓ Lâm Tế: “Có chủ, có khách không?” : “Chủ khách rõ ràng”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sư làm kệ rằng:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Hai vị Thủ tọa đều tác gia&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong đây đạo lý có phân ra.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chủ khách rõ ràng như gương sáng&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tông sư mắt nhặm thấy không hoa &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-56&quot;&gt;55&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;Cư sĩ Vô Tận nói với tôi rằng: “Phần Dương &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-57&quot;&gt;56&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; là đích tôn năm đời của Lâm Tế, người học trong thiên hạ đều tôn sùng, xem đề cương thì rất sâu rộng, nhưng chỉ bàn về Tam huyền, Tam yếu.
Ngày nay pháp phái này đều cho Tam huyền, Tam yếu là lời lập ra cho một giai đoạn, không có ích cho đạo, nhưng đối với các pháp không sinh dị kiến.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tất cả bình thường, chính là hợp ý tổ xưa nay. Lời ấy đúng chăng?”
Tôi nói: “Cư sĩ nghe lời ấy, rõ ràng đã thấu hiểu, sao lại nghi ngờ cương yếu Phần Dương?”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cư sĩ lại nói: “Tôi vẫn còn nghi mà chưa giải quyết được”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi bảo: “Đó chính là lý do lập ra Tam huyền Tam yếu. Nói trong một câu có đủ Tam huyền, trong một huyền có đủ Tam yếu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Có Huyền có Yếu chính là pháp tràng thanh lương tịch diệt ở trong biển nhiệt não của tất cả chúng sinh.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Dựng pháp tràng này thì như bôi chất độc lên trống rồi đánh thì những người nghe đều chết; người ở xa thì chết sau.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu như người không bị nghiệp hoạnh tử &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-58&quot;&gt;57&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; thì dù nghe cũng không chết.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lâm Tế lúc còn tại thế, các vị Hưng Hóa Tôn Tưởng, Tam Thánh Huệ Nhiên, Bảo Thọ, thượng tọa Định vừa nghe liền chết.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sau hơn trăm năm có người nghe ngộ ý chỉ ấy, tức là người chết sau.
Song, các pháp phái cho rằng không ích gì cho đạo, là nói người không bị hoạnh tử.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tông phong của Tổ như vách cao vạn trượng, con cháu sợ, nên thích đi con đường bằng phẳng bình dị.
Đó là Phật pháp suy đồi. Như sĩ đại phu tự xưng là học trò của Khổng Tử mà chê phần Hệ từ &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-59&quot;&gt;58&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; của kinh Dịch thì đứa bé ba tuổi sẽ cười cho!
Lâm Tế chỉ nói trong một câu đủ Tam huyền, trong một Huyền đủ Tam yếu, có Huyền có Yếu mà thôi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ban đầu thì chưa thấy được Huyền trong câu, Huyền trong ý, Huyền trong thể, nên Tháp chủ lầm lẫn ba câu của Huyền Sa là Tam huyền. Nên chỉ phân Tam huyền mà bỏ sót Tam yếu.
Trong tùng lâm &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-60&quot;&gt;59&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; vẫn để như thế mà không cho là sai, thật đáng buồn!
Huyền Sa nói: “Chơn thường lưu chú là pháp bình đẳng, chỉ là dùng lời bác lời, dùng lý đuổi lý.
Vì vậy, rõ trước mà không rõ sau. Bởi lượng phần chứng Pháp thân chưa có câu siêu việt, nên chết dưới câu ấy.
Nếu như biết lượng siêu việt thì không bị tâm ma sai sử, nắm chắc trong tay, xoay chuyển tự tại.
Đó gọi là thông đại đạo, vượt ra ngoài cái thấy bình thường.
Đây là câu thứ nhất, người xưa gọi đó là Huyền trong câu. “Xoay cơ chuyển vị, sinh sát tự tại, nắm buông tự nhiên, vào sinh ra tử, làm lợi ích cho tất cả mọi người, thoát xa cảnh sắc dục, ái kiến”.
Đây là câu thứ hai, xưa gọi đó là Huyền trong ý. Rõ suốt được trời đất, trùm khắp pháp giới. Một thể tánh chơn thường diệu dụng hiện tiền, ứng hóa không cùng, toàn dụng mà toàn chẳng dụng, toàn sinh mà toàn chẳng sinh, tạm gọi là cửa Từ định&lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-61&quot;&gt;60&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;”. Đây là câu thứ ba, người xưa gọi là Huyền trong thể.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Phù Sơn Viễn công cũng nói: “Huyền trong ý chẳng phải là ý của ý thức”.
Người xưa thật không đáng nói, Viễn Công cũng còn mê lầm. Tôi không thể không trình bày, cư sĩ Vô Tận gật đầu đồng ý.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cư sĩ nói: “Có lần tôi thấy sư từ biệt chúng nói rằng: ‘Tăng đất Ngô tên Giản Trình có đại tri kiến; Chân Điểm Hung &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-62&quot;&gt;61&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; đích thân thấy được Từ Minh; Dương Kỳ và Đạo Ngô khi tiếp người, phần nhiều đều nêu Thập trí đồng chơn’.
Xin được nghe thuyết này!”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi nói: “Thập trí đồng chơn và Tam huyền, Tam yếu đồng một yếu chỉ”.
Ngài Phần Dương nói: “Người thuyết pháp cần đầy đủ Thập trí đồng chân.
Nếu không đầy đủ thì không phân biệt được tà chính, không rõ được Thánh phàm, không thể làm con mắt cho trời người để quyết đoán đúng sai, giống như con chim làm sao có thể bay lên bầu trời khi bị gãy cánh; tên làm sao có thể bắn trúng đích khi cung bị đứt dây? Dây chắc, cánh khỏe thì bầu trời và đích đều thấu suốt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thế nào là Thập trí đồng chân? Ta nêu ra cho các thượng tọa &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-63&quot;&gt;62&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; biết: một là Đồng nhất chất trí, hai là Đồng đại sự trí, ba là Tổng đồng tham trí, bốn là Đồng chân trí trí, năm là Đồng biến phổ trí, sáu là Đồng cụ túc trí, bảy là Đồng đắc thất trí, tám là Đồng sinh sát trí, chín là Đồng âm hống trí, mười là Đồng đắc nhập trí”.
Lại nói: “ Đồng đắc nhập với ai? Đồng âm hống với người nào? Thế nào là Đồng sinh sát? Vật gì Đồng đắc thất? Cái gì Đồng cụ túc?
Cái gì là Đồng biến phổ? Người nào Đồng chân trí?
Ai có thể Tổng đồng tham? Cái gì Đồng đại sự? Vật nào Đồng nhất chất?”.
Có ai nêu ra được không? Nếu nêu ra được thì ta không tiếc tâm từ bi.
Nếu như không nêu ra được thì các ông chưa có con mắt tham học, cần mau chóng đạt được, phải biết đúng sai, thấy được mặt mũi hiện tại.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngày nay, hầu hết các tùng lâm đều sợ pháp môn này, không muốn nghe.
Vì sao phải nói đến? Chư phương &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-64&quot;&gt;63&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; chỉ thích những kiến giải bình thường, chấp chặt vào đó, không chịu buông, chỉ muốn truyền trao mà không tin có liễu ngộ.
Giá như ngài Phần Dương sống lại, đích thân phân tích thì họ cũng cho là sai. Thuở xưa, ngài A-nan kinh hành vào ban đêm, nghe đồng tử tụng bài kệ:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Nếu người sống trăm tuổi&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Không thấy được con hạc&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chẳng bằng sống một ngày&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Mà được thấy con hạc&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;A-nan liền dạy đồng tử nên đọc là: Thấy rõ Phật pháp chớ chẳng phải thấy được con hạc. Đồng tử trở về thưa với thầy của mình.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thầy cười và nói: “A-nan già nên lú lẫn rồi, con phải xem lời ta là đúng”.
Nói chỉ thú Tam huyền, Thập trí cho người học bây giờ thì khác gì việc này?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Khi ấy, cư sĩ Vô Tận than rằng: “Như vậy, chỉ thú này há chẳng phải là phương tiện sao?”. Ta liền làm kệ:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Thập trí đồng chân toàn diện mục&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong đó nhất trí là cội nguồn&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu như thấy được Phần Dương lão&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bổ tách Tam huyền trở thành hai&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;Lại ❓: “Bốn tân chủ &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-65&quot;&gt;64&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; cũng là pháp môn do Lâm Tế kiến lập ư?”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi : “Đó là phương tiện mà chư Phật trong ba đời và các tổ sư đã dùng để dẹp bỏ những tình kiến &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-66&quot;&gt;65&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; phàm thánh, chẳng phải chỉ riêng Lâm Tế sử dụng, như ngài Long Sơn Bản diện kiến Mã Tổ.
Một hôm, Thiền sư Động Sơn Lương Giới cùng đi du phương với Mật Sư Bá.
Một hôm đi ngang qua Long Sơn ở Trường Sa, thấy suối khe, cây cỏ um tùm, Giới quay lại nhìn núi non chập chùng xanh thẳm, rồi nói với Mật rằng: “Trong đây chắc chắn có ẩn sĩ”, liền men theo suối, đi khoảng mười dặm thì gặp một vị tăng gầy ốm, chắp tay trước trán ❓: “Nơi đây không có đường, các vị từ đâu đến?”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giới nói: Hãy gác lại việc không có đường, Am chủ từ đâu vào?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Ta chưa hề du phương.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giới ❓: Am chủ ở đây bao lâu rồi?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Không can hệ đến ngày tháng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giới tiếp: Am chủ trụ ở đây trước hay núi này trụ trước?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Không biết.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giới gạn lại: Vì sao không biết?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Ta chẳng từng từ cõi trời người lại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giới ❓: Được đạo lý gì mà trụ núi này?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Ta thấy hai con trâu đất chọi nhau rồi chìm xuống biển &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-67&quot;&gt;66&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, mãi đến ngày nay không có tin tức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Mật Sư Bá và Lương Giới đầy đủ oai nghi lễ bái rồi ❓: Thế nào là khách trong chủ?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Núi xanh mây trắng phủ&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lại ❓: Thế nào là chủ trong chủ?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Lâu năm không ra khỏi cửa.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;❓ tiếp: Chủ khách xa nhau bao lâu?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Sóng trên dòng Trường giang.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lại ❓: Chủ khách gặp nhau có lời gì?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Ban ngày gió mát thổi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giới đảnh lễ xin y chỉ. Lão tăng cười và nói:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Xưa nay an trú mái ba gian&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Một đạo thần quang &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-68&quot;&gt;67&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; muôn cảnh nhàn&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chớ đem thị phi cùng ta nói&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thế gian đàm luận chẳng tương quan.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;Ngay đó, Am chủ đốt am rồi đi vào trong núi sâu. Về sau Lương Giới trụ ở núi này.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giới ❓ vị tăng: Ai là chủ nhân ông của ngươi?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Người đang trả lời đó!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giới ngửa mặt than thở: “Đây gọi là việc của kẻ tôi tớ, vì sao nhận là chính mình? Đây là điềm Phật pháp suy vi.
Chủ trong khách còn chưa rõ, huống gì chủ trong chủ?”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tăng ❓: Thế nào là chủ trong chủ?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giới nói: Ngươi tự nói xem!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;: Nói được tức là chủ trong khách. Thế nào là chủ trong chủ?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giới im lặng một lúc &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-69&quot;&gt;68&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; rồi nói: “Không ngại nói cho ngươi nghe, nhưng giữ cho tương tục cũng rất khó.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ta xem ý lão tăng Long Sơn như Tiêu Hà &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-70&quot;&gt;69&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; hiểu Hàn Tín &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-71&quot;&gt;70&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, há có pháp ư?”
Nhưng lập luận của Giới công như sự lập triều của Hoắc Quang &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-72&quot;&gt;71&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, đi đứng cũng có phép tắc.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Than ôi! Người sau nhất định không hiểu hết ý người xưa, còn Giới cũng để chủ trong chủ ở trong lòng, thì thật đáng nghi!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi từng đến Lâm Xuyên kết giao với Chu Thế Anh.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Một hôm trưởng lão Thượng Lam đến nói với Thế Anh rằng: “Giác Phạm &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-73&quot;&gt;72&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; nổi tiếng làm thơ, Nhưng Thiền thì thầy ông ấy vẫn còn sai lầm, huống gì đệ tử?”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thế Anh cười, nói: “Sư có thể nghiệm xét việc đó chăng?”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thượng Lam : Ừ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cả hai ở lại một ngày rồi cùng nhau đến Sơ Sơn &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-74&quot;&gt;73&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;, dùng cơm ở khách xá.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thượng Lam lấy tay vẽ lên bàn và nói với tôi rằng: “Trên gáy kinh nhất định ghi chữ dĩ (以), là nghĩa gì?”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi liền vẽ một vòng tròn và gạch ngang rồi nói: “Là nghĩa này”.
Thượng Lam ngạc nhiên.
Tôi làm bài kệ:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Chữ dĩ (以) không thành, bát (八) cũng sai &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-75&quot;&gt;74&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Pháp thân say ngủ, chẳng che ngăn&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nạp tăng đối diện tên không biết&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trăm người trước mắt gọi chẳng hay&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;Thượng Lam trở về thuật lại cho Thế Anh, Thế Anh vỗ tay nói: “Ai là thi tăng &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-76&quot;&gt;75&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; cũng có thể biết nghĩa của từ ngữ ư ?”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nhân đó cùng nhau xem bài kệ “ Làm con nghé” của Phần Dương:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đầu có, sừng không, thật buồn thay!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trăm năm khó tránh tác gia &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-77&quot;&gt;76&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; này&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Phàm thánh cũng không sao biết hết&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hiện tiền tướng mạo có mảy may.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi nói với Thế Anh rằng: “Kệ này là giải thích tự nghĩa &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-78&quot;&gt;77&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thế Anh ❓ tôi: “Kinh Hoa nghiêm chép: “Vị tiên Tì-mục nắm tay Thiện Tài, lập tức Thiện Tài tự thấy thân mình trụ trong thế giới nhiều như số vi trần của mười cõi Phật, rồi đến chỗ chư Phật nhiều như số vi trần của mười cõi Phật, thấy cõi Phật và chúng hội ở đó, các Đức Phật có đủ tướng tốt trang nghiêm, như vậy trải qua số kiếp nhiều như vi trần của trăm nghìn ức bất khả thuyết cõi Phật.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đến khi vị tiên buông tay ra thì Thiện Tài lập tức thấy thân mình trở về chỗ cũ”. Ý nghĩa đoạn này giải thích thế nào?”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi : “Đều là biểu tượng. Vừa mới nắm tay tức là lúc nhập vào phép quán, thấy mình và người không cách nhau mảy may, trước sau không lìa đương niệm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Khi buông tay tức là lúc xuất định. Ngài Vĩnh Minh nói: “Cho nên biết, chẳng động bản vị mà các cõi xa gần rõ ràng. Một niệm chẳng rời mà thời gian dài ngắn đã xác thực”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vì Thế Tôn lấy hoa sen làm thí dụ nên thế gian chẳng có ai biết, chỉ ta nhận biết: Khi hoa mới nở, trong đó đã có hạt, trong hạt đã có tim sen, trong nhân có quả, trong quả có nhân, ba đời đồng thời, hạt phân tán nhưng lại có thứ lớp, liên tục không gián đoạn, mười phương không cách nhau”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lại ❓: Kinh Pháp hoa chép: “Trước Đại chúng, Thế Tôn hiển hiện đại thần lực, xuất tướng lưỡi rộng dài lên đến cõi trời Phạm”, thật khó hiểu! Nhưng có người giải thích rằng: “Âm thinh Phật vi diệu, mọi nơi đều nghe, siêu việt thánh phàm thì tướng lưỡi của Phật rộng dài lên đến cõi trời Phạm Thế”. Lời giải thích này như thế nào ?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ta : “Đây là hiểu trên ngôn ngữ, chẳng phải là ý của Thế Tôn”. Ngài Quy Sơn nói: “Ý phàm thánh bặt, thể lộ chân thường &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-79&quot;&gt;78&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;; lý sự chẳng hai, tức như như &lt;sup&gt;&lt;a href=&quot;#user-content-fn-80&quot;&gt;79&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt; Phật”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người học không thể hiểu ý vị sâu xa lời nói này, tạm chấp nhận theo suy đoán mà thôi. Thí như người mù sờ voi, tùy bộ phận được chạm biết mà cho là voi, cho nên đối với họ, con voi chỉ là đuôi, là chân, là lưng, là ngà mà toàn bộ con voi đã bị ẩn đi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Kinh Bát-nhã ghi: “Vì không hai, không hai phần, không sai biệt, không đoạn tức là chân thường, chẳng phải là chân thường của một vật lặng lẽ siêu việt, không biến hoại”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tướng lưỡi rộng dài đến cõi trời Phạm, đâu có thể dùng ý thức biết được? Ngài Huyền Tráng đến Tây Trúc gặp luận sư Giới Hiền, lúc đó Giới Hiền đã 106 tuổi, được mọi người kính ngưỡng tôn là Chính Pháp Tạng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngài Huyền Tráng cung kính làm lễ, đến bên luận sư, luận sư mời ngồi, rồi ❓: “Từ đâu đến?” : “Từ Trung Quốc đến, muốn học các bộ luận như Du-già v.v”……&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lúc đó luận sư rơi lệ gọi đệ tử là Giác Hiền đến và ❓: “Cơn mộng trước đây của ta như thế nào?”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vị đệ tử nói với ngài Huyền Tráng rằng: “Ba năm trước, hòa thượng bị cơn bịnh hiểm nghèo, đau đớn như người lấy dao rạch bụng. Hòa thượng định tuyệt thực đến chết.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đêm đó, hòa thượng nằm mộng thấy một người nam, thân màu vàng đến bảo rằng: “Ông chớ chán tấm thân mà xưa ông từng yêu quý.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trước đây, ông thường hại mạng vật, phải nên ăn năn, tự sát có ích gì? Có vị tăng Trung Quốc đến đây học Phật pháp, đang trên đường đi, ba năm nữa sẽ đến, hãy truyền thọ pháp Phật để vị ấy truyền bá thì tội ông tự diệt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ta là Mạn-thù-thất-lợi, cố ý đến báo cho ông rõ”. Hòa thượng bị bịnh đã ba năm, nay thầy đã đến, mộng trước thật có linh ứng”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi sống ở đời đã trải qua nhiều gian khổ, đó là do nghiệp xưa vậy. Nay biết rằng nghe lời dạy của ngài Mạn-thù-thất-lợi đem pháp trao cho người thì tội tự diệt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cho nên, có ý muốn soạn cuốn Phật tổ chỉ quyết chi ý, để truyền trao cho người hầu diệt nghiệp chướng đời trước của mình, chứ chẳng phải cầu việc khác.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;[&lt;strong&gt;HẾT&lt;/strong&gt;]&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;(Ban Dịch Thuật Hán Tạng Pháp Âm)&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://thuvienhoasen.org/a16369/thien-tong-quyet-nghi-tap&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; thuvienhoasen &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://tangthuphathoc.net/thien-tong-quyet-nghi-tap/&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; tangthuphathoc.net &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;GHI CHÚ&lt;a href=&quot;#ghi-chú&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;section&gt;&lt;h2&gt;Footnotes&lt;a href=&quot;#footnote-label&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;ol&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Ngũ dục&lt;/strong&gt;: 5 thứ ham muốn. ⚠️ Ngũ dục còn gọi là ngũ diệu dục, diệu ngũ dục, ngũ diệu sắc: 5 thứ ham muốn sinh ra từ sự nhiễm trước 5 trần cảnh: &lt;strong&gt;sắc, thanh, hương, vị, xúc&lt;/strong&gt;, tức là: ①. &lt;strong&gt;Sắc&lt;/strong&gt;: ham muốn sắc đẹp của thế gian. ②. &lt;strong&gt;Thinh&lt;/strong&gt;: ham muốn âm thanh. ③. &lt;strong&gt;Hương&lt;/strong&gt;: ham muốn mùi hương thơm. ④. &lt;strong&gt;Vị&lt;/strong&gt;: ham muốn những thức ăn ngon. ⑤. &lt;strong&gt;Xúc&lt;/strong&gt;: ham muốn sự xúc chạm. Trái với ngũ dục thô ở cõi Dục này là 5 dục của cõi Sắc và Vô Sắc, được gọi là thanh khiết ngũ dục (5 dục trong sạch). [Theo kinh Phật di giáo, luận Đại trí độ 17, 37; Ma-ha chỉ quán 4, phần cuối]. ⚠️ Ngũ dục: tài dục, sắc dục, ẩm thực dục, danh dục và thùy miên dục. ①. &lt;strong&gt;Tài&lt;/strong&gt;: ham muốn của cải. ②. &lt;strong&gt;Sắc&lt;/strong&gt;: ham muốn sắc đẹp thế gian. ③. &lt;strong&gt;Ẩm thực&lt;/strong&gt;: ham muốn sự ăn uống. ④. &lt;strong&gt;Danh&lt;/strong&gt;: ham muốn tiếng tăm. ⑤. &lt;strong&gt;Thụy miên&lt;/strong&gt;: ham muốn sự ngủ nghỉ. [Theo: Hoa nghiêm kinh tùy sở diễn nghĩa sao 27, Đại Minh tam tạng pháp số 24. (Theo TĐPHHQ, tập 3, tr. 2948)] &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-2&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Hòa thượng Vân Phong&lt;/strong&gt; (1219-1293): pháp hiệu của thiền sư Diệu Cao thuộc phái Đại Huệ - tông Lâm Tế, sống vào đời Nguyên, quê ở Trường Lạc, Phúc Châu. Sư là đệ tử nối pháp của Yển Khê Quảng Văn ở chùa Tịnh Từ, núi Kính Sơn, Hàng Châu. (Theo TĐPHHH, tập 2, tr. 1099) &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-3&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Địa ngục Vô Gián&lt;/strong&gt;: địa ngục thứ tám trong tám địa ngục nóng, nằm dưới lòng đất Nam Thiệm-bộ châu, cách mặt đất 20.000 do-tuần, sâu rộng cũng 20.000 do-tuần. Hễ người nào phạm một trong năm tội nghịch thì khi chết phải đọa vào địa ngục này. Vô gián có 5 nghĩa: ①. &lt;strong&gt;Thú quả vô gián&lt;/strong&gt;: sau khi mạng chung thì đọa thẳng vào mà không qua thân trung ấm. ②. &lt;strong&gt;Thụ khổ vô gián&lt;/strong&gt;: thụ khổ liên tục. ③. &lt;strong&gt;Thời vô gián&lt;/strong&gt;: trong thời gian một kiếp tương tục không gián đoạn. ④. &lt;strong&gt;Mạng vô gián&lt;/strong&gt;: thọ mạng không gián đoạn trong một kiếp . ⑤. &lt;strong&gt;Thân hình vô gián&lt;/strong&gt;: thân hình người tội đầy chật trong ngục, không có khoảng cách. (Theo TĐPHHH, tập 7, tr. 6076) &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-4&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;4 ân&lt;/strong&gt;: gồm nhiều nghĩa: ①. Ân mẹ, cha, Như Lai, pháp sư thuyết pháp. (Theo kinh Chính pháp niệm). ②. Ân cha mẹ, chúng sinh, quốc vương, Tam bảo. (Theo kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán 2). ③. Ân sư trưởng, cha mẹ, quốc vương, thí chủ. ④. Ân thiên hạ, quốc vương, tôn sư, cha mẹ. (Theo TĐPHHQ, tập 7, tr. 4705). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-5&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Bách Gia Chư Tử&lt;/strong&gt; là các bậc hiền triết Trung Quốc như ngài Trang Tử, Liệt Tử, Dương Tử, Mặc Tử, Hàn Phi Tử, Thận Tử, Hoài Nam Tử, Tuân Tử v.v…… &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-6&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Triệu Châu&lt;/strong&gt;: thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Đường, người ở làng Hách (có thuyết nói là Lâm Tri, Thanh Châu), họ Hác, pháp hiệu Tùng Thẩm. Sư xuất gia tại viện Hộ Tông ở Tào Châu (có thuyết nói viện Long Hưng ở Thanh Châu). Trước khi thụ giới Cụ túc, Sư đã đến Trì Dương tham yết ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện, ngài Nam Tuyền cho Sư là bậc pháp khí. Sư đến đàn Lưu Li ở Tung Sơn thụ giới, lại trở về ngài Nam Tuyền, y chỉ 20 năm. Về sau, Sư lần lượt tham học với các thiền sư Hoàng Bá, Bảo Thọ, Diêm Quan, Giáp Sơn, Ngũ Đài. Khi Sư 80 tuổi, đại chúng thỉnh Sư về trụ trì viện Quan Âm ở Thành Đông. Triệu Châu, trong suốt 40 năm, mở rộng thiền phong. Sư tôn kính ngưỡng mộ Tín Tâm Minh của tổ Tăng Xán, lời huyền diệu của Sư vang khắp thiên hạ, các công án vấn , thị chúng của Sư như “Con chó có Phật tính không ?”, “ Chí đạo không khó” được mọi người truyền tụng. Sư có tác phẩm: Chân Tế Đại Sư Ngữ Lục 3 quyển. (Theo TĐPHHQ,tập 7,tr. 5815). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-7&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thiên nhiên Di Lặc&lt;/strong&gt; và &lt;strong&gt;Tự nhiên Thích Ca&lt;/strong&gt;: Đức Phật Thích-ca tự nhiên khai phát thành Phật. Tứ Giáo Nghi ghi : Hà xứ thiên nhiên Di Lặc, tự nhiên Thích Ca. (Theo PHĐTĐ của Đinh Phúc Bảo). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-8&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Hành giả&lt;/strong&gt;, còn gọi hành nhân, tu hành nhân, là những người tu hành Phật đạo. Hai mươi lăm hành giả trong kinh Lăng-nghiêm là những vị bồ-tát và a-la-hán, mỗi vị đều có viên thông, tất cả gồm hai mươi lăm viên thông: sáu căn, sáu trần, sáu thức, bảy đại. Trong đó, nhĩ căn viên thông là tối thượng. (Theo TĐPHHQ, tập 7, tr. 6032). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-9&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Khán&lt;/strong&gt;: gồm nhiều nghĩa: ①. &lt;strong&gt;Chuyên tâm xem xét&lt;/strong&gt;: nghiên cứu tới lui một cơ ngữ nào đó của cổ nhân. Tiết Chân Như Phương Thiền sư trong NĐHN q.12 ghi: “Thiền sư Phương ở viện Chân Như thuộc Chân Châu đến tham học nơi ngài Lang Da, chỉ khán công án “Cây bách”. ②. &lt;strong&gt;Ra mắt, thăm hỏi&lt;/strong&gt;: Minh Giác Ngữ Lục q.2 ghi: “Sư ở Minh Châu, có lần ra mắt học sĩ. Đang ngồi, học sĩ ❓: Ông thương lượng cùng trưởng lão Thanh về công án “Triệu Châu khám phá bà già” quả thật có chỗ khám phá không?” Tiết Động Sơn hòa thượng trong Tổ Đường Tập q.6 ghi: Tăng ❓: “Người chẳng bịnh có ❓ thăm hòa thượng không?”. Sư : “Ta ❓ thăm hắn thì có phần đúng hơn. Hắn nào có ngó ngàng gì đến ta?”. ③. &lt;strong&gt;Tiếp đãi, khoản đãi&lt;/strong&gt;: Tiết Đan Hà hòa thượng trong Tổ Đường tập q.4 ghi: “Sư đến Lạc Kinh để tham vấn quốc sư Huệ Trung. Vừa gặp thị giả, Sư liền ❓: “Hòa thượng có ở nhà không?”. Thị giả  : “Có, nhưng chẳng tiếp khách”. Vân Môn quảng lục q.6 ghi: “Khách đến cần phải tiếp đãi, trộm đến cần phải đuổi đi”. ④. &lt;strong&gt;Coi sóc, lo liệu&lt;/strong&gt;: Tiết Động Sơn hòa thượng trong Tổ Đường tập q.6 ghi: “Nhân có hai vị tăng cùng đi đến Động Sơn. Một người bị bịnh nằm nghỉ ở Niết-bàn đường, người còn lại coi sóc y ta. Một hôm, người bịnh gọi bạn đồng hành, nói: Tôi muốn đi. Khi ấy cả hai cùng ra đi”. ⑤. &lt;strong&gt;Coi chừng, đề phòng&lt;/strong&gt;: hàm ngữ khí dặn dò, cảnh tỉnh. Tiết Trung Thừa Lô Hàng cư sĩ trong NĐHN q.18 ghi: Cư sĩ Lô Hàng Trung Thừa đang ngồi quanh lò sưởi với ngài Viên Thông. Cư sĩ bảo: “Nhân duyên của các nhà chẳng nhọc đưa ra. Một câu thẳng tắt thỉnh Sư chỉ dạy?”. Sư Thông vái chào và nghiêm giọmg bảo: “Coi chừng lửa”, cư sĩ vội vén áo, chợt đại ngộ. Tiết Khâm Sơn Văn Thúy Thiền Sư trong Liên đăng hội yếu q.22 ghi: “Đồng An không có tâm tốt, cần phải đề phòng mới được”. (Theo TĐTTHV, tr. 343). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-10&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tứ chúng&lt;/strong&gt;: Còn gọi là tứ bối, tứ bộ chúng, tứ bộ đệ tử, bốn chúng: tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc và ưu-bà-di hoặc chỉ cho bốn chúng xuất gia: tì-kheo, tì-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni. (Theo TĐPHHQ, tập 5, tr. 4727). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-11&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Nhập thất&lt;/strong&gt;: vào thất của thầy để thọ nhận pháp môn mà kế thừa dòng pháp hoặc vào thất để tham học tu tập. (Theo TĐPHHQ, tập 5, tr. 3177). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-12&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Bên kia&lt;/strong&gt; (na biên): chỉ cảnh giới đạt ngộ, siêu việt thời gian, vượt ngoài 3 cõi. Ngược lại, cảnh giới thế tục gọi là giá biên (bên này). (Theo TĐPHHQ, tập 3, tr. 2761). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-13&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Trọng Ni&lt;/strong&gt;: tên của Khổng Tử. Khổng Tử tên Khâu, người nước Lỗ. &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-14&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Hai chủ Đông Tây&lt;/strong&gt;: chủ Đông đường và Tây đường hay Đông tự và Tây tự. Đông tự: từ gọi chung các vị tăng thông hiểu các pháp thế gian, giữ các chứa vụ Tri sự, tòa vị được sắp xếp ở phía đông Phật điện Pháp đường. Còn những vị có học vấn và giới đức cao, giữ các chức Đầu thủ, Đầu thủ vị, tòa vị được sắp xếp ở phía tây, nên gọi là Tây tự. (Theo TĐPHHQ, tập 2, tr. 1585) &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-15&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tam đức, lục vị&lt;/strong&gt;: ba tính chất và sáu vị của thức ăn. Ba tính chất: mềm, tinh khiết và đúng pháp; sáu vị: đắng, chua, ngọt, cay, mặn, lạt. Theo phẩm Tự, kinh Đại bát niết-bàn 1 (bản Nam), khi Phật sắp nhập niết-bàn, các ưu-bà-tắc sắm sửa các thứ uống ăn cúng dường Phật và chúng tăng. Các thứ uống ăn này ngon ngọt, có đủ ba tính chất, sáu vị. Về sau ba tính chất, sáu vị trở thành bài kệ được đọc tụng bữa thụ trai hằng ngày trong các tự viện: “Tam đức, lục vị, cúng Phật cập tăng…”. (Theo TĐPHHQ, tập 5, tr. 4096). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-16&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Đại sự&lt;/strong&gt;: việc lãnh ngộ thiền pháp, siêu thoát sinh tử, nhà Thiền cho đây là việc lớn của mỗi người. Tiết Nghệ Ngôn trong Nguyên Hiền quảng lục q.29 ghi: “Tâm tri giải chưa dứt thì thường thường xảo kiến nảy sinh. Đây gọi là cảnh giới của trí thông minh, cũng còn gọi là ma quân dưới cây bồ-đề, phải tận tình trừ sạch. Kế đến, tiến dời có đường thì việc lãnh ngộ thiền pháp mới có hy vọng”. (Theo TĐTTHV, tr.177). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-17&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tông tượng&lt;/strong&gt;: còn gọi là tông sư, tông sư gia, thiện tri thức tức bậc thầy giỏi chuyên truyền dạy Thiền tông. Đây là bậc cao tăng đã thể hội tông chỉ Thiền tông, khéo dùng phương tiện để tiếp hóa đệ tử, giúp họ tiến đến chứng ngộ một cách đúng đắn”. Thích thị yếu lãm, q.thượng (Đại 54, 260 trung) ghi: “Tông tượng là vị thầy truyền dạy Thiền tông. Hơn nữa, chữ tông có âm là tôn, hàm ý tôn kính, nghĩa là người chuyên dạy về pháp không, được mọi người tôn kính”. (Theo TĐTTHV, tr. 851). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-18&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Hoàng Mai&lt;/strong&gt;: tên huyện, ở phía đông nam tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Huyện Hoàng Mai có Đông sơn và Tây sơn, là nới Tứ tổ Đạo Tín và Ngũ tổ Hoằng Nhẫn tham thiền đắc đạo. Ngũ tổ lấy huyện này làm căn cứ địa để mở rộng pháp môn Đông sơn. Trong đó, ngài Đạo Tín trụ ở chùa Chính Giác, núi Song Phong (Tây sơn), cách huyện Hoàng Mai 17 km về phía tây bắc. Còn ngài Hoằng Nhẫn thì mở mang giáo hóa ở chùa Chân Huệ, núi Phùng Mậu (Đông sơn), cách huyện Hoàng Mai 17km về phía đông bắc. Lục tổ Huệ Năng kế thừa y bát của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, hoằng pháp ở chùa Đông Tiệm thuộc ngoại thành phía tây nam huyện Hoàng Mai. Từ đó về sau, tùng lâm mọc lên khắp nơi và huyện Hoàng Mai trở thành địa danh nổi tiếng của Phật giáo, trong lịch sử gọi là Hoàng Mai Phật giáo. Ở huyện này có chùa Lão Tổ, chùa Tứ Tổ và chùa Ngũ Tổ là ba thiền lâm lớn nhất. Cách huyện Hoàng Mai 13km về phía Tây Bắc có một ngọn núi mọc rất nhiều mai nên gọi là núi Hoàng Mai, Thánh Tổ đời Thanh có ban tấm biển đề là “Thiên Hạ Đệ Nhất Sơn”. (Theo TĐPHHQ, tập 2, tr. 1900). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-19&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Trửu&lt;/strong&gt;: một khuỷu tay, là đơn vị đo chiều dài của Ấn Độ thời xưa. Có hai loại là thư trửu lượng và quyền trửu lượng. Thư trửu lượng là duỗi thẳng các ngón tay, độ dài từ cùi chỏ đến đầu ngón tay giữa gọi là thư trửu lượng; còn quyền trửu lượng là độ dài tứ cùi chỏ đến cuối nắm tay. Độ dài của một trửu trong các kinh luận đều nói khác nhau, theo luận Câu-xá 12, Đại Đường Tây Vực ký 2 thì bảy hạt lúa (khoán mạch, S: Yaya) là một lóng tay (chỉ tiết, S&lt;/p&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;), 24 lóng tay là một khuỷu tay, bốn khuỷu tay là một Cung (S&lt;div&gt;&lt;/div&gt;). Các từ ngữ khoán mạch, chỉ tiết, cung nói trên đều là tên gọi các đơn vị đo chiều dài đời xưa của Ấn Độ. Còn theo Đà-la-ni tập kinh 12 thì độ dài ngắn của khuỷu tay là tùy theo sự dài ngắn của khuỷu tay vị Chú sư. Có chỗ cho rằng một khuỷu tay là hai gang tay (một gang tay dài khoảng 23cm). Y cứ theo đây ta biết trong tu pháp Mật giáo, hành giả có thể y theo trửu lượng của tự thân mà sử dụng độ dài hẹp rộng khác nhau. (Theo TĐPHHQ, tập 7, tr. 5912). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-20&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tầng trời 33&lt;/strong&gt;: Đao Lợi thiên, tầng trời có ba mươi ba thiên tử, một trong sáu tầng trời cõi Dục. Trong vũ trụ quan của Phật giáo, cõi trời này ở trên đảnh núi Tu-di, thuộc tầng trời thứ hai của cõi Dục, bốn phía mỗi phía đều rộng 80000 do-tuần, bốn góc trên đảnh núi đều có một ngọn núi cao 500 do-tuần, thần Kim Cang Thủ Dược-xoa thủ hộ cõi trời này. Cung điện (thành Thiện Kiến) ở trung ương là trú xứ của trời Đế Thích, chung quanh phía ngoài thành có bốn khu vườn, là nơi các thiên chúng vui chơi. Phía đông bắc của thành có cây Viên sinh, hoa nở hương thơm bay rất xa. Phía tây nam thành có Thiện Pháp đường, các thiên chúng nhóm họp ở đây, bình luận pháp lý. Bốn phương, mỗi phương đều có tám thành, thêm một thành ở trung ương là ba mươi ba thiên thành. Theo kinh Chính pháp niệm 25, sau khi Phật Mẫu Ma-da mạng chung thì sinh lên cõi trời này, Đức Phật có lên cõi trời này nói pháp trong ba tháng để độ thoát cho mẹ. Tín ngưỡng về Tam Thập Tam thiên và Diệm-ma thiên đã sớm thịnh hành vào thời đại Phệ-đà ở Ấn Độ. (Theo TĐPHHQ, tập 5, tr. 4205). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-21&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tầng trời thứ 18&lt;/strong&gt;: tầng trời Sắc Cứu Cánh, tầng trời cao nhất trong chín tầng trời Tứ Thiền. (Theo TĐPHHQ, tập 6, tr. 5185). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-22&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tứ không thiên&lt;/strong&gt;: Tứ Vô sắc, bốn Không xứ của cõi Vô Sắc: Không Vô Biên xứ, Thức Vô Biên xứ, Vô Sở Hữu xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ. (Theo TĐPHHQ, tập 5, tr. 4797). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-23&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Bách pháp&lt;/strong&gt;: một trăm pháp hữu vi, vô vi theo chủ trương của tông Duy thức. ①. &lt;strong&gt;Tâm&lt;/strong&gt; pháp có 8 pháp. ②. &lt;strong&gt;Tâm sở hữu&lt;/strong&gt; pháp có 51 pháp gồm: &lt;em&gt;5 biến hành, 5 biệt cảnh, 11 thiện, 6 phiền não, 20 tùy phiền não, 4 bất định&lt;/em&gt;. ③. &lt;strong&gt;Sắc&lt;/strong&gt; pháp có 11 pháp. ④. &lt;strong&gt;Bất tương ưng hành&lt;/strong&gt; pháp có 24 pháp. ⑤. &lt;strong&gt;Vô vi&lt;/strong&gt; pháp có 6 pháp. (Theo TĐPHHQ, tập 1, tr. 221). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-24&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thập huyền&lt;/strong&gt;: 10 môn huyền biểu thị tướng của sự sự vô ngại pháp giới, xuất xứ từ bộ Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao của ngài Trừng Quán. Nếu thông đạt nghĩa này có thể nhập vào biển vi diệu của kinh Hoa nghiêm, nên gọi là Huyền môn; mười môn này làm duyên cho nhau sinh khởi, nên gọi là duyên khởi. Mười môn tương tức tương nhập, tác dụng lẫn nhau mà không chướng ngại, nên gọi là vô ngại. Gồm: ①. Đồng thời cụ túc tương ưng môn. ②. Quảng hiệp tự tại vô ngại môn. ③. Nhất đa tương dung bất đồng môn. ④. Chư pháp tương tức tự tại môn. ⑤. Ẩn mật hiển liễu câu thành môn. ⑥. Vi tế tương dung an lập môn. ⑦. Nhân-đà-la võng pháp giới môn. ⑧. Thác sự hiển pháp sinh giải môn. ⑨. Thập thế cách pháp dị thành môn. ⑩. Chủ bạn viên minh cụ đức môn. (Theo TĐPHHQ, tập 6, tr. 5229). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-25&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thập tín&lt;/strong&gt;: mười tâm mà mười giai vị đầu tiên trong năm mươi hai giai vị bồ-tát tu hành; mười tâm này thuộc về Tín vị, có công năng giúp cho hành giả thành tựu tín hạnh. Phẩm hiền thánh danh tự, kinh Bồ-tát anh lạc bản nghiệp, quyển thượng ghi mười tâm là: tín tâm, niệm tâm, tinh tấn tâm, định tâm, huệ tâm, giới tâm, hồi hướng tâm, hộ pháp tâm, xả tâm, nguyện tâm. (Theo TĐPHHQ, tập 6, tr. 5321). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-26&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tánh thiên&lt;/strong&gt;: tâm tánh, bản tánh, Phật tánh vốn có nơi mỗi chúng sinh. &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-27&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Vương hóa&lt;/strong&gt;: sự giáo hóa của thiên tử. (Theo HNĐTĐ, quyển 4, tr. 456) &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-28&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; Ta-la (tên khoa học: shorea robusta) gọi tắt của Ta-la song thọ, nơi Đức Phật diệt độ. (Theo PHĐTĐ của Đinh Phúc Bảo) &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-29&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Kiếp Không trở về trước&lt;/strong&gt;: biểu thị lúc trời đất chưa có, khi cha mẹ chưa sinh; hay diễn tả trạng thái khi tất cả tình thức phân biệt đối đãi chưa hình thành. Đây là thí dụ chỉ bản lai diện mục, Phật tánh thanh tịnh sẵn có của chúng sinh. (Theo TĐPHHQ, tập 3, tr. 2147). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-30&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Lục thân&lt;/strong&gt;: 6 hàng thân thuộc: cha, mẹ, anh, em, vợ, con. &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-31&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Hi Hòa&lt;/strong&gt;: tên gọi chung cho hai họ Hi và Hòa. Theo truyền thuyết, vua Nghiêu từng sai Hi Trọng, Hi Thúc, Hòa Trọng, Hòa Thúc trụ ở bốn phương để tạo lịch pháp. (Theo HNĐTĐ, quyển 9, tr. 192). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-32&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Ngũ tân&lt;/strong&gt;: ngũ huân, 5 loại rau có vị cay nồng. Theo kinh Đại Phật thủ lăng-nghiêm 8, 5 thứ cay nồng nếu ăn chín thì sinh tâm dâm, ăn sống thì tăng thêm tâm sân hận, nên những người cầu giác ngộ không nên ăn 5 thứ rau này. Về ngũ tân có nhiều thuyết khác nhau, nhưng có thể rút gọn thành 2 thuyết: 1. Theo kinh Phạm võng quyển hạ: &lt;strong&gt;hành, hẹ, nén, tỏi, hưng cừ&lt;/strong&gt;. 2. Theo Bồ-tát giới nghĩa sớ quyển hạ: &lt;strong&gt;tỏi, hành, nén, hẹ&lt;/strong&gt; và &lt;strong&gt;kiệu&lt;/strong&gt;. (Theo TĐPHHH, tập 3, tr. 3007). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-33&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;8 bộ&lt;/strong&gt;: 8 bộ quỷ thần, các vị thần bảo hộ Phật pháp là: &lt;strong&gt;Thiên&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;long&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;dạ-xoa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;càn-thác-bà&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hương thần&lt;/strong&gt; (nhạc thần), &lt;strong&gt;a-tu-la&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ca-lầu-la&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;kim sí điểu&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khẩn-na-la&lt;/strong&gt; (phi nhân, ca nhân), &lt;strong&gt;ma-hầu-la-già&lt;/strong&gt; (đại mãng thần). Đức Phật dùng oai đức cảm hóa tám bộ chúng khiến tất cả đều quy y và trở thành quyến thuộc của Phật, trụ ở cõi thụ dụng của chư Phật, hộ trì Phật pháp. Hơn nữa, bát bộ chỉ quỷ chúng do Tứ thiên vương thống lĩnh là: càn-thác-bà, tỳ-xá-xà, cưu-bàn-trà, bệ-lệ-đa, long, phú-đơn-na, dạ-xoa, la-sát. Trong kinh điển tùy theo chỗ, có khi nói là: thiên, long, v.v.. và có khi nói bát bộ là: càn-thác-bà, tỳ-xá-xà,v.v… Trung Quốc từ xưa đã có ghi chép về sự tạo lập hình tượng của tám bộ chúng này. (Theo TĐPHHH, tập 1, tr. 370). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-34&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Nghiêu&lt;/strong&gt;: con của Đế Khốc, họ Y Kì, tên Phóng Huân, hiệu Đào Đường Thị, một trong năm vị đế vương (ngũ đế) trong truyền thuyết thời thượng cổ: Phục Hi, Thần Nông, Huỳnh Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn. Hệ từ hạ, kinh Dịch ghi: “Thần Nông mất, Huỳnh Đế, Nghiêu, Thuấn nối ngôi”. (Theo HNĐTĐ, quyển 2, tr. 1142). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-35&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thuấn&lt;/strong&gt;: một trong ngũ đế, họ Diêu, tên Trùng Hoa, sử gọi là Ngu Thuấn hoặc Thuấn, về sau truyền ngôi cho họ Vũ, chết ở Thương Ngô. (Theo HNĐTĐ, quyển 6, tr. 1113). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-36&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Bất khả thuyết, bất khả thuyết, bất khả thuyết chuyển&lt;/strong&gt;: Số lượng cực đại, một trong mười số cực đại được dùng trong Phật giáo. &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-37&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;9 đời&lt;/strong&gt;: cao tổ phụ, tằng tổ phụ, tổ phụ, phụ mẫu, bản thân, con, cháu nội, cháu cố, chắt. &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-38&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tự tứ&lt;/strong&gt;: ngày cuối cùng của hạ an cư, mỗi vị tì-kheo nêu lên các tội mình đã phạm trong ba việc thấy, nghe, nghi đối trước các tì-kheo khác mà sám hối, sám hối thì được thanh tịnh, sinh vui mừng nên gọi là Tự tứ. Ngày này được gọi là Tăng tự tứ nhật, Tăng thụ tuế nhật. (Theo TĐPHHQ, tập 5, tr. 4955). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-39&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Sơn phòng&lt;/strong&gt;: phòng xá, hoặc chùa, hoặc phòng đọc sách trên núi. (Theo HNĐTĐ, quyển 3, tr. 777). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-40&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thủ tọa&lt;/strong&gt;: thượng tọa, thủ chúng, vị tăng đứng đầu trong tăng đường. Đây là người gương mẫu trong tùng lâm, làm con mắt trí tuệ soi sáng cho trời người. (Theo TĐPHHQ, tập 6, tr. 5634). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-41&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Cô phong&lt;/strong&gt;: một ngọn núi cao vút đứng độc lập. (Theo HNĐTĐ, quyển 4, tr. 221). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-42&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thủy mẫu thiền&lt;/strong&gt;: loại thiền không có hoạt dụng. &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-43&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tam huyền, Tam yếu&lt;/strong&gt;: ba huyền môn và ba yếu tố dùng để tiếp dẫn người học của thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền, nhằm kích thích hành giả phát khởi nghi tình. Tam huyền là: ①. Thể trung huyền: câu nói hoàn toàn không trau chuốt, là câu nói được biểu hiện y cứ vào chân tướng và đạo lý của tất cả sự vật. ②. Cú trung huyền: lời nói chân thật, không dính dáng đến tình thức phân biệt, tức không câu nệ nơi lời nói mà ngộ được chỗ huyền áo của nó. ③. Huyền trung huyền (Dụng trung huyền): câu nói huyền diệu, lìa tất cả những sự trói buộc, đối đãi về luận lý và ngữ cú. Tam yếu là: ①. trong lời nói không có phân biệt tạo tác, ②. nghìn thánh vào chỗ huyền áo, ③. đường ngôn ngữ dứt. (Theo TĐPHHQ, tập 5, tr. 4111). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-44&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Hành cước&lt;/strong&gt;: còn gọi là du phương, du hành, vân thủy. Nghĩa là tăng lữ không có chỗ ở nhất định, hoặc vì tìm kiếm danh sư hoặc vì tự mình tu trì, hoặc vì giáo hóa kẻ khác, mà đi chu du bốn phương. tăng du phương gọi là hành cước tăng. (Theo TĐTTHV, tr. 269). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-45&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Nhân duyên&lt;/strong&gt;: có 2 nghĩa: ①. Thiền tông cho cơ ngữ hoặc hành vi động tác thị cơ, ứng cơ là nhân duyên, ý nghĩa giống như công án. ②. Giáo môn cho rằng những tư tưởng ngôn hạnh có thể dẫn đến quả báo là nhân duyên, tức là nhân trong nhân quả báo ứng. (Theo TĐTTHV, tr. 507). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-46&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Đại sự nhân duyên&lt;/strong&gt;: cảm ứng một việc lớn. Tam tạng pháp số ghi: “Nhất tức là nhất thật tướng, vì thể tính của nhất thật tướng rộng lớn nên gọi là “đại”; nghi thức mà Như Lai xuất thế độ sinh gọi là “sự”. Chúng sinh vốn có nhất thật tướng này mà khéo thành cơ cảm Phật, nên gọi là “nhân”. Như Lai đã chứng nhất thật tướng này mà khởi ứng độ sinh nên gọi là “duyên”. Tất cả Như Lai xuất hiện ở đời đều vì khai thị thật tướng vốn có của chúng sinh, khiến tất cả được ngộ nhập tri kiến Phật. Lìa việc này thì chẳng phải là bản hoài xuất thế của Như Lai. Một việc lớn (Nhất đại sự), chỉ việc chuyển mê khai ngộ”. Luận theo các kinh thì đại sự trong kinh Pháp hoa là tri kiến Phật, kinh Niết-bàn là Phật tính, kinh Vô Lượng Thọ là vãng sinh Cực lạc. Phẩm Phương tiện, kinh Pháp hoa, ghi: “Chư Phật chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời ” (Theo TĐPHHQ, tập 2, tr. 1307). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-47&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Chính lệnh hành&lt;/strong&gt;: đạo Phật tổ lưu hành ở đời. Tắc 63, Bích nham lục (Đại 48, 194 hạ) ghi: “Lấy một câu chính lệnh đương hành, thập phương tọa đoạn để chỉ cho ngoài việc đánh hét chẳng lập một pháp nào khác mới là tông chỉ Giáo ngoại biệt truyền”. (Theo TĐTTHV, tr. 103). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-48&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tứ chuyển ngữ&lt;/strong&gt;: lời lẽ sắc bén tự tại tùy cơ nghi chuyển biến. Khi người học Thiền còn mờ mịt chưa liễu ngộ, trong lúc tiến thoái lưỡng nan thì thiền sư liền xoay chuyển cơ phong, hạ chuyển ngữ, để cho người học khai ngộ. (TheoTĐPHHQ, tập 1, tr. 989). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-49&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tiết trùng dương&lt;/strong&gt; nhằm ngày 9 tháng 9. &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-50&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Kế sống (hoạt kế)&lt;/strong&gt;: ①. Nghề nghiệp mưu sinh, công việc. Trong các trước tác Thiền tông, phần nhiều dùng từ này để dụ cho thiền pháp hoặc hành vi cơ dụng. Mật am ngữ lụcghi: “Vuông tròn không dùng đến cơ mưu, dài vắn chớ đem nói nín tìm. Một chiếc búa cũng là nghề nghiệp chân chính, suy nghĩ chi làm phí thời gian”. ②. Công cụ, gia sản sinh sống. Chương Khuông Ngộ thiền sư trong CĐTĐL q.17 ghi: “❓: Thế nào là đóng cửa tạo xe? Sư : Gia sản không có gì cả”. (Theo TĐTTHV, tr. 298). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-51&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Vương lão sư&lt;/strong&gt;: thiền sư Phổ Nguyện ở Nam Tuyền Trì Châu, họ Vương, thừa pháp ngài Mã Tổ, hoằng đạo ở Nam Tuyền, thường được xưng là Vương lão sư. (Theo PHĐTĐ của Đinh Phúc Bảo). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-52&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tứ cú Bách phi&lt;/strong&gt;: bốn câu và trăm phủ định thường dùng trong Phật giáo. Bốn câu: hữu, vô, vừa hữu vừa vô, chẳng phải hữu chẳng phải vô”; hoặc chỉ cho bốn câu: khẳng định, phủ định, một phần khẳng định một phần phủ định, cả hai đều phủ định; để làm hình thức phán đoán các luận nghị. Trong Thiền tông cũng thường chỉ cho Tứ liệu giản của ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền: 1. Đoạt nhân bất đoạt cảnh. 2. Đoạt cảnh bất đoạt nhân. 3. Nhân cảnh câu đoạt. 4. Nhân cảnh câu bất đoạt. Ngoài ra, Duy-ma Kinh Huyền Sớ cho rằng có hơn 10 thuyết khác nhau về Tứ cú.  Bách phi chỉ cho sự phủ định hoàn toàn, như ·kinh Đại Bát niết-bàn 21 (Bản Bắc) nói niết-bàn của Như Lai là: phi hữu, phi vô, phi hữu vi, phi vô vi, phi hữu lậu, phi vô lậu, cho đến phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện tại……, cho nên biết tứ cú bách phi đều là những khái niệm giả danh được thiết lập y cứ vào lập trường của tất cả sự phán đoán và luận nghị, nhưng tông chỉ cứu cánh của Phật giáo là vượt ngoài những khái niệm giả danh này và đạt đến cảnh giới dứt bặt nói năng, suy nghĩ. Cho nên trong Thiền lâm lưu truyền rộng rãi danh ngôn “Ly tứ cú tuyệt bách phi”. Thiền tông có rất nhiều công án về tứ cú bách phi, là kim chỉ nam cho người tham thiền học đạo. (Theo TĐPHHQ, tập 5, tr. 4721). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-53&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Lư Thị&lt;/strong&gt;: tức ông Lư Khâu Dận. &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-54&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Phong Can&lt;/strong&gt;: thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Đường, không rõ năm sinh và mất. Ban đầu, Sư trụ chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, ngày giã gạo, đêm ngâm vịnh, lời nói không nhất định, phần nhiều giống như những lời dự ký. Nếu có người ❓ thì Sư  hai chữ “tùy thời”, chứ không nói gì khác. Khoảng năm 712-713, Sư hành hóa đến Kinh Triệu (Trường An), trị bệnh cho Lư Khâu Dẫn. (Theo TĐPHHQ, tập 4, tr. 3703). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-55&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Không hoa&lt;/strong&gt;: hoa đốm trong hư không. Trong hư không không có hoa, nhưng vì người mắt bệnh nhặm nên vọng thấy có hoa đốm huyễn hiện. Phật thường dùng từ ngữ này để dụ cho cảnh giới vốn không thật thể, vì hiểu biết sai lầm nên thấy có một cái ngã thường trụ, hoặc có thật thể, gọi là không hoa. (Theo TĐPHHQ, tập 3, tr. 2312). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-56&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Phần Dương&lt;/strong&gt;: ngài Thiện Chiêu, thiền sư Trung Quốc, dòng Lâm Tế, đời Tống, họ Du, người ở Thái Nguyên (nay là tỉnh Sơn Tây). Thuở nhỏ Sư thông minh, tự nhiên thông hiểu văn tự. Mười bốn tuổi cha mẹ qua đời, Sư xuất gia, thọ giới Cụ túc, đi tham phỏng 71 vị thạc đức tôn túc, đến Thủ Sơn ở Nhữ Châu tham phỏng thiền sư Tỉnh Niệm được đại ngộ và được nối pháp. Sau, Sư đến Hành Tương, Tương Miện, quan Quận thủ mời Sư về trụ trì các chùa nổi tiếng, nhưng Sư không nhận. Khi ngài Tỉnh Niệm thị tịch, Sư mới nhận lời thỉnh của tăng tục ở Tây Hà đến trụ viện Thái Tử ở Phần Dương, giảng rộng về tông yếu, dùng các cơ dụng như tam cú, tứ cú, tam quyết, thập bát xướng… để tiếp hóa người học, nổi tiếng một thời. Ba mươi năm, Sư không ra khỏi cửa, tăng tục gọi ngài là Phần Dương. Sư thị tịch năm 1024 đời Tống, hưởng thọ 78 tuổi. Thụy hiệu là Vô Đức Thiền Sư. (Theo TĐPHHQ, tập 6, tr. 5547). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-57&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Hoạnh tử&lt;/strong&gt;: chết bất ngờ do găp tai họa. Có chín thứ: bệnh mà không có thầy thuốc phải chết, bị luật vua xử tử, phi nhân đoạt tinh khí, lửa cháy, nước nhận chìm, ác thú ăn thịt, té từ cao xuống, bị thuốc độc, bùa chú trù ếm, đói khát. (Theo TĐPHHQ, tập 2, tr. 1905). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-58&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Hệ từ&lt;/strong&gt;: Kinh Dịch có 7 loại: Thoán, tượng, văn ngôn, hệ từ, thuyết quái, tự quái, tạp quái. Thoán, tượng, hệ từ, mỗi loại chia ra 2 thiên. Như vậy có 10 thiên. Người đời Hán gọi là Thập dực (Theo Ngữ Văn Hán Nôm tập hai, Ngũ Kinh, Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, tr 507). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-59&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tùng lâm&lt;/strong&gt;: giới Phật giáo, tự vịên, thiền tự, từ mà chư tăng dùng để gọi các thiền sư. (Theo TĐTTHV, tr. 906). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-60&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Từ định&lt;/strong&gt;: ở trong thiền định, khi hành giả muốn chúng sinh được an lạc thì trong tâm số pháp sinh định, gọi là từ định. (Theo Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-61&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Chân Điểm Hung&lt;/strong&gt;: tức thiền sư Thúy Nham Khả Chân. Sư đắc pháp nơi Thạch Sương Sở Viên. &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-62&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thượng tọa&lt;/strong&gt;: trưởng lão, thượng lạp, thủ tọa, trụ vị. Vị tăng hay vị ni có tuổi hạ cao và ở địa vị trên, một trong tam cang. Kinh Tì-ni-mẫu 6 y cứ vào tuổi hạ cao. (TĐPHHQ, tập 6, trg 5730). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-63&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Chư phương&lt;/strong&gt;: thiền sư ở các nơi hoặc chỉ cho thiền viện. (Theo TĐTTHV, tr. 110). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-64&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Bốn tân chủ&lt;/strong&gt;: 4 câu này để đo lường cơ phong, tiếp dẫn người học của thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Trong đó, tân là vị khách đến tham vấn, chủ là vị thầy. Tứ tân chủ gồm có: &lt;strong&gt;①. Tân khán chủ&lt;/strong&gt;: người khách xem xét thấy rõ ông chủ, như tiếng hét của người học chân chính là đưa ra cái chậu đựng keo. Thiện tri thức chẳng biết là cảnh bèn dính mắc cảnh đó mà làm dáng làm điệu, liền bị người học hét thêm tiếng nữa, thiện tri thức chẳng chịu buông xuống. Ấy là bệnh tuyệt vọng chẳng thể trị. ②. Chủ khán tân: người chủ nhìn tường tận được khách, như thiện tri thức chẳng đưa ra vật gì, tùy chỗ ❓ của người học liền đoạt, người học bị đoạt thà chết chẳng chịu buông. ③. Chủ khán chủ: người chủ nhìn lại mình, như có người học đưa một cảnh thanh tịnh ra trước mắt thiện tri thức, thiện tri thức biết là cảnh, liền quăng vào hầm sâu. Người học nói: “Tốt lắm thiện tri thức”. Thiện tri thức liền nói: “Ngốc thay! Chẳng biết tốt xấu”. Người học bèn lễ bái. ④. Tân khán tân: người khách nhìn rõ về họ, như có người học bị còng tay còng cổ ra trước mắt thiện tri thức. Thiện tri thức lại còng thêm một lớp, người học hoan hỷ, hai bên đều chẳng biết. (Theo TĐTTHV, tr. 923). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-65&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tình kiến&lt;/strong&gt;: tục tình vọng kiến. Bích nham lục q.1 ghi: “Tuyết Đậu sợ người ta chạy theo tình kiến. Vì thế rút hẳn chốt cửa, bày kiến giải của mình, nói: “Thôi nhớ nhau, gió mát khắp nơi bao giờ ngưng”. (Theo TĐTTHV, tr. 814). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-66&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Nê ngưu nhập hải&lt;/strong&gt;: con trâu đất chìm xuống biển. Dụ cho mất dấu vết, không tin tức; có nghĩa là một đi không trở lại. Nê ngưu (trâu đất) dụ cho tác dụng suy tư phân biệt. Hải (biển): pháp tính bình đẳng. Thiền tông dùng cụm từ này để chỉ cảnh giới của người khai ngộ, vọng tình hòa tan vào chân tâm. (Theo TĐTTHV, tr. 475). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-67&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Nhất đạo thần quang&lt;/strong&gt;: một luồng ánh sáng thần diệu, tức ánh sáng sẵn có của chính mình, là tâm sáng suốt linh diệu không mờ mịt. Tắc 31, Thung dung lục (Đại 48, 248 thượng) ghi: “Một luồng ánh sáng thần diệu, từ trước đến nay chẳng hề che giấu”. (Theo TĐTTHV, tr. 814). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-68&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Lương cửu&lt;/strong&gt;: lặng lẽ hoặc thản nhiên một hồi. Nguyên ý là thời gian hơi lâu. Thiền tông dùng từ này chỉ cho trạng thái vô ngôn vô ngữ. Lúc vị thầy tiếp dẫn người học, người học đưa ra nghi vấn, hoặc trình bày kiến giải của mình, hoặc trả lời câu ❓ của thầy, thầy thường dùng thái độ lặng lẽ một hồi để biểu thị sự đồng ý hoặc phản đối. (Theo TĐTTHV, tr. 428). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-69&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tiêu Hà&lt;/strong&gt;: Thừa tướng của Hán vương Lưu Bang. &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-70&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Hàn Tín&lt;/strong&gt;: Đại tướng của Hán vương Lưu Bang. Nhờ Tiêu Hà và Hàn Tín mà Lưu Bang diệt Hạng Vũ và lên ngôi Hoàng đế, tức Hán Cao Tổ (206 BC). Tiêu Hà, Hàn Tín, Trương Lương được gọi là “Hán sơ tam kiệt”, nghĩa là ba người hào kiệt đầu đời Hán. (Theo Lịch Sử Trung Quốc 4000 năm, tập 1, tr. 277-294). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-71&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Hoắc Quang&lt;/strong&gt;: Đại tướng 3 đời: Hán Vũ Đế, Hán Chiêu Đế và Hán Tuyên Đế. Ông nắm đại quyền triều chính khi Hán Vũ Đế băng. Lúc đó, Hán Chiêu Đế lên ngôi mới 8 tuổi. (Theo Lịch Sử Trung Quốc 4000 năm, tập 1, tr. 369-373). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-72&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Giác Phạm&lt;/strong&gt;: thiền sư Bảo Giác ở chùa Thanh Lương, đất Đoan Châu đời Tống, tên Đức Hồng, tự Giác Phạm, ban đầu tên Huệ Hồng, ngộ đạo nơi thiền sư Chơn Thanh Khắc Văn, trước tác bộ Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện, 30 quyển và Lâm Gian Lục. Sư thị tịch tháng 5 niên hiệu Kiến Viêm đời Cao Tông, thọ 58 tuổi, được vua ban tặng hiệu Bảo Giác Viên Minh. (Theo PHĐTĐ của Đinh Phúc Bảo). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-73&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Sơ Sơn&lt;/strong&gt;: núi thuộc huyện Kim Khê, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, nằm cách trung tâm huyện 29km về hướng tây bắc. Trong núi có chùa Sơ Sơn. Núi này vốn là chỗ đọc sách của ẩn sĩ Hà Tiên Đan đời Đường, nên có khi gọi là Thư Sơn. Khoảng niên hiệu Trung Hoa (881-884) đời Đường, thiền sư Khuông Nhân, tông Tào Động đến núi này cất chùa, Vua ban bảng hiệu là Bạch Vân. Vào đời Nam Đường, đổi tên là Sơ Sơn. Đời Minh có thiền tăng Tự Tính trụ trì. (Theo TĐTTHV, tr. 639). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-74&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Chữ dĩ&lt;/strong&gt; (以) không thành, bát (八) cũng sai: Chữ “dĩ’ viết trên đầu lá bùa hộ mạng, ấy là biến hình của chữ trong các chữ tất-đàm. Tuy nhiên, nếu nhìn theo chữ Trung Quốc thì chẳng phải là chữ “dĩ” cũng chẳng phải chữ “bát”. Thiền tông căn cứ vào việc trên để chỉ cho bản lai diện mục rất khó diễn đạt, dù bằng bất cứ phương tiện nào. (Theo TĐPHHQ, tập 2, tr. 1060). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-75&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thi tăng&lt;/strong&gt; còn gọi là văn tăng. Vị tăng giỏi thơ văn. Đặc biệt chỉ cho các vị thi tăng ở Giang Tả, sống vào đời Đường, Trung Quốc. (Theo TĐPHHQ, tập 6, tr. 5421). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-76&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tác gia&lt;/strong&gt; còn gọi là Tác giả: bậc tu hành tài giỏi có cơ dụng vượt hơn người. (Theo TĐTTHV, tr. 652). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-77&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Tự nghĩa&lt;/strong&gt;: ý nghĩa từ ngữ. &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-78&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thể lộ chân thường&lt;/strong&gt;: vật thể hoàn toàn hiển bày tướng trạng chân thật, vĩnh hằng, là điều mà nhà Phật gọi là chơn như. Đây là cảnh giới của người ngộ Thiền. Tiết Bách Trượng Hoài Hải Thiền sư trong NĐHN q.3 ghi: “Linh quang sáng tỏ, thoát khỏi căn trần, thể lộ chân thường, chẳng mắc văn tự. Tâm tính không nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên, tức như như Phật”. (Theo TĐTTHV, tr. 719). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-79&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Như như&lt;/strong&gt;: chân thật tướng của vạn sự vạn vật bình đẳng không hai, gọi là như như. Đoạn tế tâm yếu ghi: “Vô tâm là không có tất cả tâm. Thể như như bên trong như gỗ đá không lay không động; bên ngoài như hư không không bít không ngại, không năng sở không chỗ nơi, không tướng mạo không được mất”. (Theo TĐTTHV, tr. 541). &lt;a href=&quot;#user-content-fnref-80&quot;&gt;↩&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;/ol&gt;
&lt;/section&gt;</content:encoded><category>category:zen</category><category>tag:QUYẾT NGHI &amp; LẬP CHÍ</category><category>tag:TS ĐOẠN VÂN TRÍ TRIỆT</category></item><item><title>TRUYỀN THỪA TỔ SƯ THIỀN TÔNG - LÂM TẾ</title><link>https://tosuthien.org/post/truyen-thua-thien-tong-lam-te</link><guid isPermaLink="false">truyen-thua-thien-tong-lam-te</guid><pubDate>Fri, 19 Jun 2026 03:13:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt; Truyền thừa&lt;a href=&quot;#-truyền-thừa&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic hierarchy-tree-lr-curved-line-capsule-item&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    title ⚡️ Lâm Tế thế thắng&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    items   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;        - label Lâm Tế Nghĩa Huyền&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          desc 臨濟義玄&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Tam Thánh Huệ Nhiên&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 三聖慧然     &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Ngụy Phủ Đại Giác &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 魏府大覺           &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Hưng Hóa Tồn Tương   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 興化存獎         &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;h2&gt; Gia phong - Tông chỉ&lt;a href=&quot;#-gia-phong---tông-chỉ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;✨ TAM HUYỀN&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tăng hỏi: &lt;em&gt;Thế nào là câu thứ ①&lt;/em&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;① Sư nói: “&lt;strong&gt;Ấn khai tam yếu điểm son hẹp, chưa cho suy nghĩ chủ khách phân&lt;/strong&gt;”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hỏi: &lt;em&gt;Thế nào là câu thứ ②&lt;/em&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;② Sư nói: “&lt;strong&gt;Diệu giải chẳng cho vấn vô trước (chấp trước), phương tiện đâu phụ (cô phụ) triệt lưu cơ&lt;/strong&gt;”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hỏi: &lt;em&gt;Thế nào là câu thứ ③&lt;/em&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;③ Sư nói: “&lt;strong&gt;Hãy xem trên đài hát múa rối, kéo dây đều do người bên trong&lt;/strong&gt;”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lại nói: “&lt;strong&gt;Một cú ngữ phải đủ tam huyền môn, một huyền môn phải đủ tam yếu, có quyền có thực, các ngươi làm sao lãnh hội!&lt;/strong&gt;”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thủ Sơn Tỉnh Niệm Thiền sư (đời thứ 5 phái Lâm Tế) trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục rằng:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;“&lt;strong&gt;Ngộ được câu thứ nhất làm thầy của Tổ và Phật, ngộ được câu thứ nhì làm thầy của người và trời, ngộ được câu thứ ba tự cứu chẳng xong!&lt;/strong&gt;”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Còn Từ Minh Sở Viên Thiền Sư (đời thứ 7 phái Lâm Tế) vì Tăng hỏi Tam huyền Tam yếu mà thuyết tụng rằng:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;① Đệ nhất huyền&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Tam thế chư Phật tính nói chi?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Dạy bảo trong mộng sinh khinh rẻ,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngồi không lại thành đọa đoạn kiến.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;② Đệ nhị huyền&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Lanh lợi nạp Tăng mắt chưa sáng,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lửa đá điện chớp là chậm trễ,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nhướng mày nháy mắt càng cách xa.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;③ Đệ tam huyền&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Vạn tượng sum la vũ trụ rộng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Mây tan hang trống núi non lặng,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nước chảy đất bằng đầy sông ngòi.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;✨ TAM YẾU&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;① Đệ nhất yếu&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Thánh phàm nói chi diệu,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Suy nghĩ đường càng xa,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Mở mắt điên đảo nhiều.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;② Đệ nhị yếu&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Đánh kiểng gọi đỉnh núi,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thần thông đến tự tại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đa văn kêu ngoài cửa.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;③ Đệ tam yếu&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Ngồi nằm khiến người chê.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bàn tay nắm thiên địa.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chiếu soi đủ ngàn sai.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt; TỨ LIỆU GIẢN:
&lt;a href=&quot;https://thuvienhoasen.org/a41572/tu-lieu-gian-cua-to-lam-te-nguyen-the-dang&quot;&gt;https://thuvienhoasen.org/a41572/tu-lieu-gian-cua-to-lam-te-nguyen-the-dang&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Có khi Đoạt Nhân chẳng Đoạt Cảnh,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Có khi Đoạt Cảnh chẳng Đoạt Nhân,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Có khi Nhân Cảnh đều Đoạt,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Có khi Nhân Cảnh đều chẳng Đoạt.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;① Tăng hỏi thế nào là &lt;strong&gt;Đoạt Nhân chẳng Đoạt Cảnh&lt;/strong&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sư đáp:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Mặt trời phát sinh lụa trải khắp&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hài nhiều tóc dài trắng như tơ&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;② Hỏi thế nào là &lt;strong&gt;Đoạt Cảnh chẳng Đoạt Nhân&lt;/strong&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sư đáp:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Lệnh vua đã ban khắp thiên hạ&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tướng quân biên thùy chẳng thấy nghe&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;③ Hỏi thế nào là &lt;strong&gt;Nhân Cảnh đều Đoạt&lt;/strong&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sư đáp:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Biên giới cách tuyệt tin tức&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tự cô độc ở một nơi&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;④ Hỏi thế nào là &lt;strong&gt;Nhân Cảnh đều chẳng Đoạt&lt;/strong&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sư đáp:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Vua lên ngôi bửu điện&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lão ẩn dật ca ngợi&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://phatgiao.org.vn/gia-phong-cua-ngu-gia-tong-phai-thien-phat-giao-d26613.html&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; phatgiao.org.vn &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded><category>category:Bài viết</category><category>tag:Truyền thừa</category></item><item><title>TRUYỀN THỪA TỔ SƯ THIỀN TÔNG - PHÁP NHÃN</title><link>https://tosuthien.org/post/truyen-thua-thien-tong-phap-nhan</link><guid isPermaLink="false">truyen-thua-thien-tong-phap-nhan</guid><pubDate>Fri, 19 Jun 2026 03:13:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt; Truyền thừa&lt;a href=&quot;#-truyền-thừa&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic hierarchy-tree-lr-curved-line-capsule-item&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    title  Pháp Nhãn linh xảo&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    items   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;        - label &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          desc &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc            &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label  &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc          &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;h2&gt; Gia phong - Tông chỉ&lt;a href=&quot;#-gia-phong---tông-chỉ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Gia phong của Pháp Nhãn Tông có &lt;strong&gt;Lục Tướng&lt;/strong&gt; và &lt;strong&gt;Tứ Liệu Giản&lt;/strong&gt; dùng để tiếp dẫn hậu học:&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Lục Tướng&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Tứ Liệu Giản&lt;/strong&gt; tức là:&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;p&gt;① Văn văn (phóng)&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;② Văn bất văn (thu)&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;③ Bất văn văn (minh)&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;④ Bất văn bất văn (ám)&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://phatgiao.org.vn/gia-phong-cua-ngu-gia-tong-phai-thien-phat-giao-d26613.html&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; phatgiao.org.vn &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded><category>category:Bài viết</category><category>tag:Truyền thừa</category></item><item><title>TRUYỀN THỪA TỔ SƯ THIỀN TÔNG - QUY NGƯỠNG</title><link>https://tosuthien.org/post/truyen-thua-thien-tong-quy-nguong</link><guid isPermaLink="false">truyen-thua-thien-tong-quy-nguong</guid><pubDate>Fri, 19 Jun 2026 03:13:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt; Truyền thừa&lt;a href=&quot;#-truyền-thừa&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic hierarchy-tree-lr-curved-line-capsule-item&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    title  Quy Ngưỡng trao nhau&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    items   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;        - label &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          desc &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc            &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label  &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc    &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;h2&gt; Gia phong - Tông chỉ&lt;a href=&quot;#-gia-phong---tông-chỉ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Quy Ngưỡng Tông cho 96 tướng tròn, gia phong tương đối ôn hòa, chẳng giống sự mãnh liệt của Lâm Tế Tông.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong Nhơn Thiên Nhãn Mục nói về gia phong Quy Ngưỡng Tông là “Cha từ con hiếu, lệnh trên thì dưới tùng, ngươi muốn ăn cơm ta liền bưng canh; ngươi muốn qua sông ta liền chèo thuyền, cách núi thấy khói liền biết là lửa; cách tường thấy sừng liền biết là trâu”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Còn Pháp Nhãn Thiền Sư Thập Quy Luận rằng: “Quy Ngưỡng thì vuông tròn mặc khế, như tiếng dội trong hang, như phù hợp luật lệ thông qua quan ải”.&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://phatgiao.org.vn/gia-phong-cua-ngu-gia-tong-phai-thien-phat-giao-d26613.html&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; phatgiao.org.vn &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded><category>category:Bài viết</category><category>tag:Truyền thừa</category></item><item><title>TRUYỀN THỪA TỔ SƯ THIỀN TÔNG - TÀO ĐỘNG</title><link>https://tosuthien.org/post/truyen-thua-thien-tong-tao-dong</link><guid isPermaLink="false">truyen-thua-thien-tong-tao-dong</guid><pubDate>Fri, 19 Jun 2026 03:13:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt; Truyền thừa&lt;a href=&quot;#-truyền-thừa&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic hierarchy-tree-lr-curved-line-capsule-item&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    title  Tào Động đinh ninh&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    items   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;        - label Động Sơn Lương Giới&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          desc 洞山良价&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Tào Sơn Bản Tịch&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 曹山本寂&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Tào Sơn Huệ Hà &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 曹山慧霞&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                    - label Lộc Môn Xử Chân&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      desc &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Việt Châu Kiều Phong&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Long Nha Cư Độn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 龍牙居遁&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Khuôn Nhân Sơ Sơn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 疎山匡仁&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Vân Cư Đạo Ưng&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 雲居道膺&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Quy Tông Hoài Uẩn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 歸宗懷惲&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Kê Sơn Chương&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 嵆山章&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Lãng Châu Đức Sơn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 朗州德山&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Vĩnh Quang Viện Chân&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 永光院真&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Vân Cư Đạo Giản&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 雲居道簡&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Đồng An Đạo Phi &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 同安道丕&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                    - label Đồng An Quán Chí&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      desc 同安觀志&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                        - label Lương Sơn Duyên Quán&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          desc 梁山緣觀&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                            - label Thái Dương Cảnh Huyền&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              desc (Đại Dương Cảnh Huyền) 大陽警玄&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Đầu Tử Nghĩa Thanh&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  desc 投子義青&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                    - label Phù Dung Đạo Khải&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      desc 芙蓉道楷&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                        - label Lộc Môn Tự Giác&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                          desc 鹿門自覺&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                            - label Phổ Chiếu Nhất Biện&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                              desc 普照一辯&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                - label Đại Minh Tăng Bảo&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                  desc 靈巖僧寶&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                    - label Vương Sơn Tăng Thế&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                      desc 玉山師體&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                        - label Tuyết Nham Như Mãn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                          desc 雪巖慧滿&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                            - label Vạn Tùng Hành Tú&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                              desc 萬松行秀&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                - label Tuyết Đình Phúc Dụ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                  desc 雪庭福裕&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                    - label Linh Ẩn Văn Thái&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                      desc 靈隱文泰&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                        - label Đan Hà Tử Thuần&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                          desc 丹霞子淳&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                            - label Chân Yết Thanh Liễu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                              desc 真歇清了&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                - label Thiên Đồng Tông Giác&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                  desc 天童宗珏&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                    - label Tuyết Đậu Trí Giám&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                      desc 雪竇智鑑&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                        - label Thiên Đồng Như Tịnh&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                          desc 天童如淨&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                            - label Đạo Nguyên Hi Huyền&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                              desc 道元希玄&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                            - label Hoằng Trí Chính Giác&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                              desc 宏智正覺&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                - label Tự Đắc Huệ Huy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                  desc 自得慧暉&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                    - label Minh Cực Huệ Tộ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                      desc 明極慧祚&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                        - label Đông Cốc Minh Quang&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                          desc 東谷妙光&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                            - label Trực Ông Đức Cử&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                              desc 直翁德舉&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                - label Đông Minh Huệ Nhật&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                  desc 東明慧日&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                - label Vân Ngoại Vân Tụ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                  desc 雲外雲岫&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                    - label Vô Ấn Đại Chứng&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                      desc 無印大證&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                    - label Đông Lăng Vĩnh Dư&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                      desc 東陵永璵&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;h2&gt; Gia phong - Tông chỉ&lt;a href=&quot;#-gia-phong---tông-chỉ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;“Tào Động là xướng họa làm dụng”, bởi gia phong một vấn một đáp, qua lại miên mật, so với cơ phong thẳng tắp của Lâm Tế ý thú khác xa.
Vì thế người xưa có lời nói “Lâm Tế tướng quân, Tào Động nông dân” do gia phong Lâm Tế như tướng chỉ huy binh lính trăm vạn, mà gia phong Tào Động thì như kẻ nông phu canh tác ruộng đất rất chu đáo vậy.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;*️⃣ Có Tăng hỏi &lt;strong&gt;Phần Dương Thiện Chiêu&lt;/strong&gt; thiền sư:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;❓: Thế nào là &lt;strong&gt;Chánh trung Lai&lt;/strong&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Đáp:&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Bông sen nở đầy trên đất khô&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;❓: “Sau khi sen nở thế nào?”.&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Đáp:&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Nhụy bông Kim Liên hứng sương ngọc&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cao Tăng chẳng tọa đài Phượng Hoàng&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;❓: Thế nào là &lt;strong&gt;Chánh trung Thiên&lt;/strong&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Đáp:&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Mặt trăng chiếu sáng đầu đêm rồi&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Gà gáy phải báo trước canh năm&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;❓: Thế nào là &lt;strong&gt;Thiên trung Chánh&lt;/strong&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Đáp:&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Mầm nhỏ thành cây to&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giọt nước làm sông ngòi&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;❓: Thế nào là &lt;strong&gt;Thiên trung Chí&lt;/strong&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Đáp:&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Ý khí chẳng đắc từ thiên địa&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Anh hùng đâu nương thời thế thành&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;❓: Thế nào là &lt;strong&gt;Kiêm trung Đáo&lt;/strong&gt;?&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Đáp:&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Ngọc nữ dệt vải thuyền ọt ẹt&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người đá đánh trống tiếng đùng đùng&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;✨ Thiền sư &lt;strong&gt;Phần Dương Thiện Chiêu&lt;/strong&gt; vì Tăng xin hỏi &lt;strong&gt;Ngũ Vị&lt;/strong&gt;, bèn tụng ra từng vị rằng:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Chánh trung Lai&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Bửu kiếm Kim Cang vạch trời ra,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Một tia thần quang khắp thế giới.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Phẩm tính sáng tỏ tuyệt trần ai.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Chánh trung Thiên&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Cơ phong sấm sét nháy mắt nhìn,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lửa đá điện chớp chậm trễ thay!&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Suy nghĩ đo lường xa ngàn dặm.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thiên trung Chánh&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Hãy xem Luân Vương ban chánh lệnh,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bảy ngàn Thái Tử đều theo hầu,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giữa đường một mình tìm gương vàng.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thiên trung Chí&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Sư tử tuổi oai thế sẵn,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thiên tà bá quái ló đầu ra,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Rống lên một tiếng đều hàng phục.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Kiêm trung Đáo&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Hiển bày vô công chớ tạo tác,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trâu gỗ bước đi trong lửa hồng,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thật là Pháp Vương diệu trung diệu.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;✨ Còn &lt;strong&gt;Ngũ Vị&lt;/strong&gt; của &lt;strong&gt;Từ Minh Sở Viên&lt;/strong&gt; thiền sư rằng:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Chánh trung Lai&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Gà đen nửa đêm gáy trong phòng,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đáy biến đốt đèn thế giới sáng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tảng đá trồng bông mọc cây linh.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Chánh trung Thiên&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Mặt trời lặn xuống hiện bóng lạ,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ảnh tượng rõ ràng hiển Tông thừa,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lông mày chớ nhìn trăng trong giếng.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thiên trung Chánh&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Ngựa gỗ sinh con khắp thiên hạ,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Mặc tình dẫn dắt đi đường chim,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Há chẳng người nương ổ chim ở.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Thiên trung Chí&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Mỗi mỗi trượng phu có ý khí,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Mâu thuẫn chống nhau chẳng vết thương,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tung hoành khai triển chẳng lìa nhau.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Kiêm trung Đáo&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Trắng đen chưa rõ chớ tạo tác,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Phải biết trụ cột chưa sinh con.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chớ nhận lời cuồng ngưng nửa đường.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://phatgiao.org.vn/gia-phong-cua-ngu-gia-tong-phai-thien-phat-giao-d26613.html&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; phatgiao.org.vn &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A0o_%C4%90%E1%BB%99ng_t%C3%B4ng&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; vi.wikipedia.org &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded><category>category:Bài viết</category><category>tag:Truyền thừa</category></item><item><title>TRUYỀN THỪA TỔ SƯ THIỀN TÔNG - VÂN MÔN</title><link>https://tosuthien.org/post/truyen-thua-thien-tong-van-mon</link><guid isPermaLink="false">truyen-thua-thien-tong-van-mon</guid><pubDate>Fri, 19 Jun 2026 03:13:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt; Truyền thừa&lt;a href=&quot;#-truyền-thừa&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic hierarchy-tree-lr-curved-line-capsule-item&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    title  Vân Môn thẳng tắt&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    items   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;        - label Vân Môn Văn Yển&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          desc 雲門文偃&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Song Tuyền Nhân Úc&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 雙泉仁郁&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Đức Sơn Huệ Viễn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 德山慧遠&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                    - label Khai Tiên Thiện Xiêm&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      desc 開先善暹&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                        - label Phật Ấn Liễu Nguyên&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          desc 佛印了元&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Song Phong Quảng Ngộ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 雙峰竟欽&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Phụng Tiên Đạo Thâm&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 奉先道琛&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Liên Hoa Phong Tường &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 蓮華峯祥&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Tường Phù Vân Khoát &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 祥符雲豁&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                    - label Định Quang Viên Ứng &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      desc 定光圓應&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Ba Lăng Hạo Giám&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 巴陵顥鑒&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Động Sơn Thủ Sơ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 洞山守初&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Nam Nhạc Lương Nhã &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 南岳良雅&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                    - label Tiến Phúc Thừa Cổ &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      desc 薦福承古&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Đức Sơn Duyên Mật&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 德山縁密&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Văn Thù Ứng Chân &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 文殊應眞&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                    - label Động Sơn Hiểu Thông &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      desc 洞山曉聰&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                        - label Phật Nhật Khế Tung &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          desc 佛日契嵩&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Song Tuyền Sư Khoan&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 雙泉師寛&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Ngũ Tổ Sư Giới &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 五祖師戒&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                    - label Lặc Đàm Hoài Trừng &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      desc 泐潭懷澄&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                        - label Dục Vương Hoài Liễn &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          desc 育王懷璉&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                        - label Cửu Phong Giám Thiều&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          desc &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                            - label Đại Hải Pháp Anh&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              desc &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Hương Lâm Trừng Viễn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc 香林澄遠&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Trí Môn Quang Tộ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc 智門光祚&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                    - label Tuyết Đậu Trọng Hiển&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      desc 雪竇重顯&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                        - label Thảo Đường&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          desc 草堂&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                        - label Thiên Y Nghĩa Hoài&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          desc 天衣義懷&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                            - label Viên Thông Pháp Tú&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              desc 圓通法秀&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Phật Quốc Duy Bạch&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  desc 佛國惟白&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                    - label Kiền Minh Vĩnh Nhân&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      desc 乾明永因&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Huệ Nghiêm Tông Vĩnh&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  desc 慧嚴宗永&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                            - label Trường Lô Ứng Phu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              desc 長蘆應夫&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Trường Lô Tông Trách&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  desc 長蘆宗賾&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                    - label Huyền Sa Trí Chương&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      desc 玄沙智章&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                            - label Văn Huệ Trọng Nguyên&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              desc 文慧重元&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Nguyên Phong Thanh Mãn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  desc 元豐清滿&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                    - label Viên Giác Tông Diễn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      desc 圓覺宗演&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                        - label Phụng Sơn Đạo Chiểu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                          desc 鳳山道沼&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                        - label Tây Thiền Huệ Thuấn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                          desc 西禪慧舜&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                            - label Viên Chiến Tông Bản &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              desc 圓照宗本&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Pháp Vân Thiện Bản&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  desc 法雲善本&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                    - label Diệu Trạm Tư Huệ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      desc 妙湛思慧&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                        - label Nguyệt Đường Đạo Xương&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                          desc 月堂道昌&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                            - label Lôi Am Chính Thụ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                              desc 雷庵正受&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Trường Lô Sùng Tín&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  desc 長蘆崇信&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                    - label Từ Thọ Hoài Thâm&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      desc 慈受懷深&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                        - label Linh Ẩn Huệ Quang&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                          desc 寂室慧光&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                            - label Trung Trúc Nguyên Diệu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                              desc 癡禪元妙&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                - label Dĩ Am Thâm Tịnh&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                  desc 已庵深凈&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                    - label Hư Vân Diễn Triệt &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                      desc 虛雲演彻&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                        - label Diệu Tâm Phật Nguyên (zh. &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                          desc 妙心佛源&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                        - label Diệu Vân Phật Bảo&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                          desc 妙云佛宝&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                        - label Diệu Từ Pháp Vân&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                          desc 妙慈法云&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                        - label Diệu Tông Tịnh Huệ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                          desc 妙宗净慧&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;h4&gt; Gia phong - Tông chỉ&lt;a href=&quot;#-gia-phong---tông-chỉ&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h4&gt;
&lt;p&gt;Gia Phong của Vân Môn thẳng tắt, thường dùng:&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;3 chữ: &lt;strong&gt;Cố&lt;/strong&gt; (nhìn), &lt;strong&gt;Giám&lt;/strong&gt; (xem), &lt;strong&gt;Ỷ&lt;/strong&gt; (chê) để khám xét người học;&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;Vân Môn &lt;strong&gt;Bát Yểu&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;p&gt;① Huyền&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;② Tùng&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;③ Chơn Yếu&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;④ Đoạt&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;⑤ Hoặc&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;⑥ Quá&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;⑦ Tán&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;⑧ Xuất&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; Ngài Vân Môn là “Hàm cái triệt lưu”, nói gia phong nhà họ giống như nước sông đang chảy gấp mà đột nhiên dừng lại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Văn Yểm có tự làm bài kệ rằng:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Vân Môn chót vót trên đám mây,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cá chẳng dám trụ nước chảy bay,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vào cửa đã biết ôm kiến giải&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đâu phiền kể lại sình bánh xe.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt; Đệ tử Ngài Vân Môn là Viên Minh Thiền sư có bài tụng ba câu của Vân Môn rằng:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;① Hàm Cái Càn Khôn:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Càn khôn và vạn tượng,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Địa ngục với thiên đường,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vật vật đều trực hiện,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Mỗi mỗi chẳng đúng sai.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;② Triệt Đoạn Chúng Lưu:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Đầy núi đầy biển lại,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Mỗi mỗi đều trần ai,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lại muốn lập huyền diệu,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngói bể băng tiêu ngay.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;③ Tùy Ba Trục Lãng:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Cách hỏi đủ biện tài,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cao thấp đáp chẳng sai,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cũng như thuốc đúng bệnh.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chẩn hỏi lúc lâm thời.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt; Riêng hỏi ngoài 3 câu:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Đương nhơn nếu đề xướng,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ba câu đâu thể gồm,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Có hỏi việc thế nào,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nam Nhạc và Thiên Thai.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt; Ngài Trí Môn làm bài tụng “Rút chữ Cố” rằng:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Vân Môn rút cố cười hi hi,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Suy nghĩ bị nó cố giám ỷ,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Dầu cho Trương Lương nhiều kế sách,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cuối cùng ở đây cũng khó thi (hành).&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://phatgiao.org.vn/gia-phong-cua-ngu-gia-tong-phai-thien-phat-giao-d26613.html&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; phatgiao.org.vn &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded><category>category:Bài viết</category><category>tag:Truyền thừa</category></item><item><title>TRUYỀN THỪA THIỀN TÔNG - NGƯU ĐẦU</title><link>https://tosuthien.org/post/truyen-thua-thien-tong-nguu-dau</link><guid isPermaLink="false">truyen-thua-thien-tong-nguu-dau</guid><pubDate>Fri, 19 Jun 2026 00:50:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt;SƠ ĐỒ TRUYỀN THỪA&lt;a href=&quot;#sơ-đồ-truyền-thừa&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic hierarchy-tree-lr-curved-line-capsule-item&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    title Ngưu Đầu Tông&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    items   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;        - label Ngưu Đầu Pháp Dung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          desc &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Kim Lăng Đàm Thôi&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Ngưu Đầu Trí Nham&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              desc &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Ngưu Đầu Tuệ Phương&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  desc &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                    - label Ngưu Đầu Pháp Trì&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      desc &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                        - label Ngưu Đầu Trí Oai &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          desc &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                            - label An Quốc Huyền Đĩnh&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              desc (Tuyên Châu)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                            - label Thiên Trụ Sùng Tuệ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              desc (Thư Châu)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                            - label Hạc Lâm Huyền Tố&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              desc (Nhuận Châu)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Tử Sơn Hạo Nhiên&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Ngô Hưng Pháp Hải&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Ngô Trung Pháp Kính&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Kính Sơn Đạo Khâm&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  desc (Hàng Châu)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                    - label Hàng Ma Sùng Huệ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                    - label Đạo Lâm Ô Khòa&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      desc (Hàng Châu)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                        - label Chiêu Hiền Hội Thông&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                          desc (Hàng Châu)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                            - label Ngưu Đầu Tuệ Trung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Thái Bạch Quán Tông&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Kim Lăng Huệ Thiệp&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Phật Quật Duy Tắc&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                    - label Vân Cư Trí&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      desc (viện Hoa Nghiêm / núi Thiên Thai / núi Vân Cư)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://ngulucthien.com/&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; ngulucthien.com &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0u_%C4%90%E1%BA%A7u_t%C3%B4ng&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; vi.wikipedia.org &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded><category>category:Bài viết</category><category>tag:Truyền thừa</category></item><item><title>DẪN VÀO DUY THỨC HỌC</title><link>https://tosuthien.org/post/dan-vao-duy-thuc-hoc</link><guid isPermaLink="false">dan-vao-duy-thuc-hoc</guid><pubDate>Fri, 19 Jun 2026 00:00:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt;1. Thức là gì?&lt;a href=&quot;#1-thức-là-gì&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Thành duy thức (Skt. Vijñaptimatratāsiddhi) là tên gọi chung cho hai tác phẩm của Thế Thân (Vasubandhu): Nhị thập luận (Skt. Viṃśatikā) và Tam thập luận (Skt. Triṃśatikā), trong đó tác giả chứng minh tất cả tồn tại duy chỉ là thức.
Từ Sanskrit được dùng ở đây là vijñapti mà Hán dịch là thức, thay cho từ được dùng trong kinh điển nguyên thủy là vijñāna, chỉ cho sáu thức, mà Hán cũng dịch là thức.
Cả hai từ chỉ chung cho một sự thể, hay thể tính, nhưng được biết đến dưới hai hoạt dụng khác nhau. Sự thể đó nói chung là thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chính trong ý nghĩa các đối tượng xuất hiện trước thức hay cho thức, nên nói tất cả duy chỉ là thức.
Hiểu theo cách hiểu thông tục, nói duy thức là nói rằng tất cả tồn tại ngoại giới thảy đều là sự biến hiện của thức, được sáng tạo bởi thức.
Cảnh được thấy trong chiêm bao là những thứ được sáng tác tùy ý bởi thức, tuy có bị tác động bởi những biến cố nào đó trong lúc thức trước đó.
Nhưng, nếu hiểu theo cách hiểu kinh điển, cảnh vật trong chiêm bao tuy nói là thức biến hay biến thái của thức, nhưng không phải là những thứ được tưởng tượng hay sáng tác tùy ý bởi thức. Chúng là những kinh nghiệm quá khứ được tích lũy, được lưu trữ như là những dữ liệu trong kho chứa thức. Sau đó chúng được biến thái, qua quá trình xử lý, nghĩa là qua những quan hệ tương tác giữa các dữ liệu, để rồi chúng xuất hiện như là đối tượng của ý thức. Duy nhất chỉ là đối tượng của ý thức, mặc dù trong chiêm bao cái vẻ như được thấy bởi mắt, được nghe bởi tai. Ý thức cũng không tùy tiện sáng tác cảnh chiêm bao. Cảnh vật chiêm bao xuất hiện, và ý thức vin vào đó để xuất hiện và hoạt động, quá trình xử lý tùy thuộc một số điều kiện, tùy thuộc các duyên.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cảnh xuất hiện trong chiêm bao được dùng để mô tả ý nghĩa duy thức, như vậy không phải vì chúng là sản phẩm được sáng chế tùy tiện bởi thức; mà nói là duy thức, vì chúng không xuất hiện bên ngoài thức.
Thật vậy, cảnh vật trong chiêm bao là những thứ chỉ xuất hiện bên trong thức.
Tương tự, trong khi thức tỉnh, cảnh vật được thấy không tồn tại ngoài thức, điều này có nghĩa rằng thức chỉ nhận thức, chỉ bắt nắm cái xuất hiện bên trong nó do tác động bởi cảnh ngoại tại, bên ngoài nó.
Vậy thì, cảnh vật ngoại tại ấy tồn tại thực hay bất thực? Chính đấy là điểm tranh luận giữa các nhà Đại thừa.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Điểm thừa nhận chung, theo đó, tồn tại khi trở thành đối tượng được nhận thức, tồn tại ấy không xuất hiện trong thức nó như là nó, mà xuất hiện qua ảnh tượng được xử lý, hay được tái cấu trúc bởi thức.
Quá trình xử lý đối tượng nhận thức này, tức quá trình tái cấu trúc thực hiện bởi thức này, kinh điển gọi là vikalpa: phân biệt, hay parikalpa: Biến kế phân biệt.
Luận Madhyānta nói, abhūtaparikalpo’sti: hư vọng phân biệt hữu, cái tồn tại là cái phân bố cấu trúc một cách không hiện thực.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cái phân bố cấu trúc bất thực ấy – cái hư vọng phân biệt ấy, được chỉ định là thức.
Nói cách khác, thức không bao giờ nhận thức được tự thân của sự vật, nghĩa là nó không thể vươn đến hay đạt đến chân như hay như tính (tathatā) của tồn tại, mà chỉ nắm bắt được những gì sau khi chúng đã được tái cấu trúc.
Duy chỉ trí vô phân biệt của Như Lai mới đạt đến Chân như hay Như tính (tathatā), hay Như thực tính (yathābhūtatā).
Cũng như một khách hàng bình thường nhìn lên màn hình vi tính, nhìn thấy những hình ảnh xuất hiện trong đó, rồi vui, mừng, buồn, giận, theo tác động của chúng, nhưng người đó không thể nhận thức được bản chất hay tự thể của chúng.
Duy chỉ kỹ sư lập trình, hay người có kiến thức về các nguyên tắc lập trình, mới thông hiểu được các dữ liệu đã được lưu trữ như thế nào và được xử lý như thế nào để cho xuất hiện những hình ảnh ấy.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vậy, câu hỏi căn bản để dẫn đến những giải thích bất đồng là, bản chất của tồn tại là gì? Các môn đệ truyền thừa của Vô Trước và Thế Thân cho rằng – hoặc giả thiết được cho rằng, bản chất của tất cả tồn tại chính là thức.
Từ đây, một câu hỏi khác cần được nêu lên: Thức ấy là gì? Cũng nên nói thêm rằng, thức được nêu ở đây chỉ cho thức thể, bao hàm cả hai hình thái xuất hiện, hoặc như là công cụ hay hành vi nhận thức (vijñāna), hoặc như là thông tín viên (vijñapti).&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Khi nhắc đến từ thức, phổ thông có cảm tưởng rằng ta đã biết nó là cái gì rồi, cũng như ta biết tai, mắt là cái gì vậy.
Nhưng khi cần chỉ vào nội dung cụ thể của nó, trỏ vào đích xác tự thể của nó, thì hầu như các nhà bác học thảy đều bối rối.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Song, ở đây chúng ta không nhất thiết phải đề cập đến sự bối rối ấy, mà chỉ cần đọc lại đoạn kinh Lăng nghiêm cũng sẽ thấy rõ sự bối rối của A-nan.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đức Phật hỏi A-nan: Ông lấy cái gì để thấy thân Phật? A-nan đáp: Lấy tâm và mắt.
Phật lại hỏi: Tâm và mắt ở đâu? A-nan đáp: Mắt tức phù trần căn gồm bốn đại chủng, nó ở trên mặt.
Thức tâm thì ở trong thân. Phật lại hỏi: Nếu thức tâm ở trong thân, tại sao nó không thấy ruột, gan, tim, phổi các thứ?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đoạn dẫn tóm tắt trên mở đầu cho chuỗi bảy lớp gạn hỏi tâm của Phật để khai ngộ A-nan.
Đoạn kinh này được đánh giá rất cao trong truyền thống Phật học Trung Quốc và nhiều người do đoạn kinh này mà tìm đến nghiên cứu Phật học.
Tuy nhiên, nhìn từ quan điểm A-tì-đàm, không những các câu trả lời của A-nan có vẻ ngớ ngẩn, mà cả đến những câu hỏi được cho là nêu lên bởi Phật cũng vô nghĩa.
Truyền thống A-tì-đàm, căn cứ trên kinh điển nguyên thủy, tức các bộ A-hàm, mỗi khi nêu lên vấn đề nhận thức, thường dẫn đoạn kinh Phật nói: “Sau khi duyên đến mắt và các sắc, nhận thức mắt phát sinh.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Không riêng các Luận sư A-tì-đàm, mà cả đến các Luận sư Trung quán khi đề cập đến sự xuất hiện của thức cũng thường xuyên dẫn chứng đoạn kinh này.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đoạn kinh khác cũng nói: “Nếu mắt nội xứ không bị hư hoại; sắc ngoại giới không lọt vào tầm nhìn, không có sự chú ý thích đáng, thức tương ứng không phát sinh……”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ý nghĩa của đoạn kinh nói rằng, bất cứ khi nào và nơi nào mà có sự tụ hội của căn và cảnh, thì khi ấy và nơi ấy thức xuất hiện.
Như vậy, không thể nói thức ở trong hay ở ngoài thân. Câu trả lời được gán cho A-nan liên hệ đến quan niệm về tự ngã của một số học phái Ấn Độ, theo đó, tự ngã là một jīva cực tiểu, tồn tại trong thân; khi nó xuất hiện nơi con mắt thì mắt thấy cảnh vật bên ngoài; khi nó xuất hiện nơi tai thì nó nghe các thứ âm thanh.
Hoặc cho rằng nó lớn bằng thân lượng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;A-nan tất nhiên biết rõ đoạn kinh Phật nói vừa dẫn, nên chắc chắn không khi nào lại trả lời nó ở trong thân hay ở ngoài thân.
Tất nhiên, Phật không xác nhận tồn tại một tự ngã dù lớn hay nhỏ để nói nó ở trong hay ngoài thân, nên cũng không hỏi A-nan những câu hỏi như vậy.
Song, người soạn kinh Lăng nghiêm, gán những điều không tìm thấy trong kinh điển nguyên thủy, và cả trong các kinh điển Đại thừa, cho Phật và A-nan, có thể ông muốn dẫn đạo người sơ cơ đi từ những câu hỏi ngớ ngẩn để tiến đến thông hiểu những vấn đề cao siêu. Nếu vậy, đây là điều mà soạn giả Lăng nghiêm đã thành công.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Xem thế đủ thấy rằng mặc dù trong các kinh điển nguyên thủy cũng như Đại thừa đề cập đến thức rất nhiều, và cũng có nhiều đoạn kinh mô tả sự xuất hiện của thức và những điều điện cần hội đủ để xuất hiện; tuy vậy, nếu cần chỉ thẳng vào cái gì để biết nó là thức, thì điều này không đơn giản. Chính vì vậy mà khi nói đến từ “duy thức”, dù hiểu thức biến theo cách nào, nhưng vì chưa thể xác định được thức là cái gì, nên những giải thích thường trở thành vô nghĩa.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Khi ta thấy một vật, sự thấy này được thực hiện bởi mắt? Hay bởi thức? Hay bởi một cái tôi nào đó làm chủ nhận thức? Những câu hỏi như vậy không thể trả lời trong một vài dòng chữ, mà cần phải qua một quá trình chiêm nghiệm nghiêm túc và lâu dài mới có thể mong đi đến một kết luận dứt khoát.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong trình độ nghiên cứu hiện đại của các ngành học thuật, tâm lý học, sinh lý học, vật lý học…, chưa có đâu đề xuất giải đáp được chấp nhận phổ biến.
Các luận điển của Du-già hành tông, và của Duy thức học, cũng không đề  xuất giải đáp thỏa mãn, mà chỉ cung cấp những phương pháp tư duy để mỗi cá nhân tự chiêm nghiệm và tự thể nghiệm.
Duy thức học, cũng như các tông phái Đại thừa Phật giáo khác, không chỉ thẳng cho mọi người chân lý là cái gì, nó như thế nào, mà chỉ con đường dẫn đến đó, để mọi người tự nhìn, tự thấy và hiểu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Dù vậy, để có thể tiếp cận con đường dẫn đến sự thật ấy, ở đây chúng ta cũng cần tìm hiểu ý nghĩa thức là gì trong phạm vi chân lý ước lệ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nguyên thủy, Đức Phật chỉ đề cập sáu thức. Ai cũng có thể nhận biết được sáu thức này qua các hoạt động của nó. Nghĩa là, ta chỉ có thể biết được rằng thức tồn tại hay xuất hiện khi nào biết được hoạt động của nó. Định  nghĩa được nêu như là công thức hay định đề như sau, trong các kinh điển Pāli: vijānāti vijānātīti kho, āvuso, tasmā viññāṇanti vuccatī’’ti.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vì nó nhận thức, nên gọi nó là thức.
Abhidharmasamuccaya cũng định nghĩa tương tự: kiṁlakṣaṇaṁ vijñānam| vijānanālakṣaṇaṁ vijñānam| vijñānaṁ yena rūpaśabdagandharasasparśadharmān nānā viṣayān vijānāti||,&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;“Đặc điểm của thức là gì? Nó thức nhận thức các đối tượng sai biệt, như sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.”
Nói nôm na, thức là cái biết, hay cái để biết.
Khi nó nhận biết sắc do bởi mắt, nó được gọi là thức của mắt, hay thức ở nơi mắt; thức y nơi mắt mà hoạt động.
Khi nó nhận biết âm thanh do bởi tai, nó được gọi là thức của tai hay thức nơi tai; thức y nơi tai mà hoạt động.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Kinh cũng nói, các hành là vô thường; chúng xuất hiện rồi biến mất.
Các Luận sư A-tì-đàm diễn giải thêm: cái gì vô thường, cái đó xuất hiện và biến mất trong từng sát-na.
Nếu một pháp mà có thể tồn tại kéo dài trong hai sát- na, nó cũng có thể kéo dài thêm nhiều sát-na, và cũng có thể kéo dài vĩnh viễn.
Cho nên, nói vô thường, nên hiểu là sát-na vô thường.
Khi áp dụng quy luật này vào quá trình nhận thức, lúc bấy giờ căn sở y của thức và cảnh đối tượng của thức, tất cả cũng đều là các hành chịu chi phối bởi vô thường, nên chúng chỉ tồn tại trong mỗi sát-na.
Khi căn và cảnh diệt thì thức cũng diệt.
Vậy, trong quá trình nhận thức, căn, cảnh và thức đồng xuất hiện trong sát-na thứ nhất, và diệt ngay sau đó.
Sang sát-na thứ hai, căn, cảnh, thức khác xuất hiện.
Cái gì đồng nhất tất cả những yếu tố xuất hiện trong sát-na thứ nhất với những cái xuất hiện trong sát-na thứ hai, và nhiều sát-na sau tiếp theo, để nói rằng chúng đồng là một căn, một cảnh, và một thức?
Ở đây, ta có thể cho một thí dụ hình ảnh.
Một người ghé mắt nhìn qua một khe cửa, đọc được từng mẫu tự đi qua. Vì khe hẹp, mỗi lần y chỉ nhận được một chữ cái.
Loạt chữ cái liên tục tiếp nối nhau xuất hiện.
Sau một lúc, người ấy nhận được một thông điệp nào đó qua các mẫu tự lần lượt xuất hiện ấy.
Nhận thức này đạt được do từng ký tự được tiếp nhận và được lưu trữ đâu đó, trong ý thức chẳng hạn hay trong óc não, và ngay sau đó chúng được xử lý, tức được nối kết theo một quy luật định sẵn, theo một khung ngữ pháp nào đó, tiếng Việt, hay tiếng Hoa, hay tiếng Nhật. Nói cách khác, từng mẫu tự hay ký tự riêng biệt, nếu không được xử lý, hay được tái cấu trúc theo quy luật định sẵn, những thứ ấy không có ý nghĩa gì, chỉ như đá sỏi ngoài kia vậy thôi. Cũng vậy, do bị chi phối bởi định luật vô thường, pháp sinh rồi diệt trong từng sát-na. Chúng được nhận biết là cái gì, do bởi mắt hay tai, hay các thứ, đều được tái cấu trúc trong quá trình nhận thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Do ý nghĩa này, Thức thân túc luận nói: Thức con mắt có thể nhận biết được màu xanh, nhưng không nhận biết được rằng “đây là màu xanh.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Theo đó, trong từng sát-na, từng đối tượng cá biệt xuất hiện và được thức nắm bắt.
Nhưng chỉ khi nào có sự tổng hợp và đồng nhất tất cả những gì đã xuất hiện và biến mất trong nhiều sát-na, bấy giờ nhận thức mới đạt đến phán đoán, biết rằng cái đó là cái gì.
Quá trình nhận thức như vậy được phân tích thành hai giai đoạn: giai đoạn đối tượng chưa được cấu trúc, và giai đoạn đã được tái cấu trúc. Thuật ngữ nói chung gọi là vô phân biệt, và phân biệt. Tất cả mọi nhận thức, nơi phàm phu cũng như nơi Thánh giả, đều bắt đầu bằng quá trình không cấu trúc.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nhận thức này thuật ngữ gọi là pratyakṣa: hiện lượng, thấy trực tiếp bằng chính con mắt của mình, không qua trung gian con mắt của ai khác (aparokṣa).
Trong từ ngữ thường dùng ngày nay, ta có thể gọi nó là nhận thức trực giác, tuy nói như thế chưa hẳn chính xác.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Định nghĩa về hiện lượng (pratyakṣa), Trần-na nói: “Hiện lượng, trừ phân biệt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Định nghĩa này cũng được lặp lại trong Chính lý trích luận, với một chi tiết được thêm: Nhận thức trực quan hay hiện lượng là nhận thức loại trừ sự cấu trúc và không sai lầm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nhận thức có thể trực tiếp, nhưng sai lầm, như các trường hợp thấy cây trên bờ di chuyển thay vì thấy thuyền ta đứng trong đó di chuyển; hoặc giả thấy hai mặt trăng do khuyết điểm nào đó nơi con mắt.
Những sai làm này được phán đoán từ nhận thức thông tục của phàm phu, chứ đối với Thánh giả, ngay chính hiện lượng không phân biệt của phàm phu vẫn là nhận thức sai lầm, không bắt nắm được bản chất hay như tính của thực tại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sự vật xuất hiện trong sát-na thứ nhất, rồi biến mất; ấn tượng của nó được lưu lại để sau đó căn cứ trên ấn tượng được lưu trữ này để nhận dạng ảnh tượng xuất hiện trong sát-na kế tiếp.
Ảnh tượng xuất hiện trong sát-na thứ hai này rồi cũng biến mất ngay, ấn tượng của nó cùng được lưu trữ để làm cơ sở nhận dạng cái xuất hiện tiếp theo nữa.
Quá trình xuất hiện, biến mất, rồi tái hiện để nhận dạng và đồng hóa chuỗi ấn tượng liên tục, dẫn đến phán đoán về đối tượng xuất hiện đó là cái gì. Vì thế nói, thức con mắt mắt nhận biết màu xanh nhưng nó không thể đưa ngay ra phán đoán “đây là màu xanh.” Phán đoán là kết quả của quá trình cấu trúc.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Như vậy, định nghĩa kinh điển nói, vijānāti vijānātīti kho, āvuso, tasmā viññāṇanti vuccatī’ ti, gọi nó là thức vì nó nhận thức, định nghĩa này đề cập thức trong nhận thức thuần túy, tổng quát, chung cho cả Thánh trí và tục thức phàm phu, không phân biệt và có phân biệt. Thức trong định nghĩa này, mà nguyên ngữ Sanskrit là vijñāna, là cái biết, hay cái nhờ đó mà có sự nhận biết, chỉ cho kết quả nhận thức, hay công cụ để nhận thức. Thức chỉ có thể nhận biết được qua hoạt động của nó, cũng như hành vi chặt được nhận biết qua công cụ của nó là cái búa.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Một vật như vậy, mà hoạt động của nó không được quy định cho một mục đích nào đó với đối tượng nào đó, nó cũng không thể được xác định đó là cái búa hay là cái gì khác.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hoạt động với đối tượng và công cụ của nó được xác nhận do bởi kết quả của nó. Cũng vậy, nói rằng thức được nhận biết do bởi hoạt động của nó, tức nói rằng kết quả hoạt động của nó được xác nhận.
Đây có thể được xem là định nghĩa tổng quát của Trần- na về nhận thức, như được nêu trong Tập lượng luận.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Theo đó, giả sử đối tượng ngoại giới tồn tại, như vật xanh chẳng hạn; khi một cá nhân nhận biết sự hiện diện này, phán đoán đạt được ở đây là “nó nhận biết rằng nó nhận biết (thấy) vật xanh”.
Trong phát biểu “nó nhận biết” thứ nhất bao hàm cả chủ thể và đối tượng nhận thức. Trong đây có thể giả thiết rằng đối tượng là tồn tại ngoại giới, và chủ thể là thức nội giới. Trong phát biểu “nó nhận biết” thứ hai, đối tượng chính là cái “nó nhận biết” thứ nhất.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cái đó là một cấu trúc bao gồm chủ thể và đối tượng được dựng lên chính bên trong thức. Chỉ khi phán đoán như vậy đạt được, bấy giờ mới có thể nói nhận thức đã đạt được kết quả.
Vậy thì, cái mà thức nắm được như là kết quả ở đây không hoàn toàn là tự thân của vật xanh ngoại giới, mà là ảnh tượng được cấu trúc bên trong thức. Qua kết quả đó, thức, vijñāna, là từ ngữ có nội hàm là công cụ nhận thức; đồng thời chính nó cũng là kết quả đạt được qua quá trình nhận thức. Như vậy, khi nói “thức con mắt”, cakṣur-vijñāna, là hàm ngụ rằng kết quả nhận thức đạt được do bởi thức hoạt động y trên con mắt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nếu dẫn lui về một định nghĩa tổng quát hơn nữa về thức, ta phải nhắc đến định nghĩa bởi Thế Thân:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;vijñānaṃ prativijñaptiḥ: viṣayaṃ viṣayaṃ prati vijñaptir upalabdhir vijñānaskandha ity ucyate/ Thức, là sự thông tri cá biệt: sự thông tri, sự nắm bắt từng đối tượng cá biệt, đó là thức uẩn.
Trong định nghĩa này, thức được nhận biết bởi hoạt động của nó qua hai hình thái, nói theo Sanskrit: prati-vijñapti và upalabdhi.
Trong từ đầu, tiếp đầu ngữ prati– như là trạng ngữ chỉ sự phân bố (vīpsārtha); vì hoạt động của thức hướng đến từng đối tượng cá biệt.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;Hoạt động  của thức được nói bằng hợp từ thứ nhất này là vijñapti: sự thông tri, hay hoạt động thông tri.
Đây là danh từ phái sinh của động từ căn vi-jñā (vi-jānāti: nó nhận biết) qua thể sai khiến (causative) vi-jñapayati: nó thông tri hay báo cho biết.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Long Thọ, trong Hồi tránh luận, nêu thí dụ khá rõ về cách dùng của động từ này, như nói: asaṃbhavaṃ gṛhe Devadattasya jñapayati, nó thông báo cho biết sự vắng của Devadatta trong nhà.
Áp dụng cho trường hợp vijñapti, đó là hành vi thông báo cho biết sự hiện hữu của đối tượng.
Kết quả nhận thức đạt được ở đây là sự hiện diện của Devadatta, có hay không có, trong nhà; nhưng bản thân của Devadatta không trực tiếp xuất hiện cho nhận thức, mà nó được biết đến qua sự thông báo.
Từ vijñapti như vậy có xu hướng dẫn đến kết luận rằng đối tượng ngoại giới – giả thiết nó thực sự tồn tại – mà ta biết được, tự thân đối tượng ấy không trực tiếp xuất hiện trong kết quả của nhận thức.
Vậy, tồn tại của nó chỉ được xác nhận qua nguồn thông tin: vijñaptimatratā. Song, nói thế không nhất quyết nói rằng không có pháp gì tồn tại như là thực hữu bên ngoài thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Từ vijñapti cũng được tìm thấy xuất hiện trong ngữ cảnh khác nữa, liên hệ đến hành vi của thân và ngữ.
Đó là thân biểu (kāya-vijñapti) và ngữ biểu (vāg-vijñapti).
Vijñapti ở đây Hán dịch là biểu, theo nghĩa, nó biểu hiện ra bên ngoài cho người khác thấy và do đó nhận biết. Một người vung gươm lên múa; người khác nhìn thấy và có thể phán đoán, nó vung gươm với ý định giết người, hay chỉ để múa biểu diễn mà chơi. Vậy, thân biểu có nghĩa là sự thông tri cho biết động tác của thân được thấy ấy có ý nghĩa gì, nhắm mục đích gì. Ý nghĩa hay mục này là những điều ẩn kín trong thức mà người ngoài không thể biết được nếu chúng không được biểu hiện ra bên ngoài thông qua thân hay ngữ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Về cơ bản, từ vijñapti có nội hàm chung là sự thông tri, nhưng trong ngữ cảnh, không nên lẫn lộn giữa hai trường hợp.
Thân biểu và ngữ biểu, hay sự thông tri bởi thân và ngữ, là những thứ thuộc sắc pháp (rūpa-dharma). Nói cách khác, đó là vijñapti được liệt kê trong sắc uẩn (rūpa-skandha).
Nhưng trong hợp từ vijñpati-matratā, trong đó vijñapti là yếu tố thuộc tâm pháp, được liệt kê trong thức uẩn.
Trong hai ngữ cảnh, một từ vijñapti chỉ cho hai loại pháp khác nhau.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;2. Tâm-ý-thức&lt;a href=&quot;#2-tâm-ý-thức&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Như vậy, nói vijñaptimatratā, tất cả tồn tại duy chỉ là thức, hay chính xác hơn, duy chỉ là dữ liệu thông tin của thức.
Sự thông tin được thực hiện bằng cấu trúc phân đôi: chủ thể nắm bắt (grāhaka: năng thủ) và khách thể được nắm bắt (grāhya: sở thủ).
Cho nên, cái mà ta thấy biết không phải là tự thân của thực tại như thực, nó như thế là như thế (yathābhūta), mà chỉ là ảnh tượng được tái cấu trúc bởi thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thức hoạt động như thế nào để tái cấu trúc ảnh tượng nhận thức của nó? Đây là vấn đề được nêu lên trong bài tụng đầu tiên của Tam thập luận. Theo đó, tất cả tồn tại chỉ được biết đến như là hình thái ẩn dụ (upācara), chúng được thực hiện y trên sự biến thái của thức (vijñāna-pariṇāme). Sự biến thái này có ba dạng, hay ba lớp: 1. vipāka (dị thục), kho chứa hạt giống (bīja: chủng tử) hay dữ liệu, ở đó chúng được tẩm ướt, hay được xử lý, để cho ra kết quả; 2. manas (ý), trung tâm kiểm soát các dữ liệu xuất-nhập, chủng tử và hiện hành; 3. vijñapti (liễu biệt thức), bộ phận thông tin, thâu nạp và truy xuất dữ liệu, gồm sáu thức. Ba lớp này là cách diễn đạt khác đi của tập hợp ba từ ngữ thường được đề cập trong kinh điển nguyên thủy, cũng như trong hầu hết kinh điển Đại thừa; đó là bộ ba “tâm-ý-thức”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trung A-hàm nói “Tâm-ý-thức của người ấy thường xuyên được huân tập bởi tín, tinh tấn, đa văn, bố thí, trí tuệ; người ấy do bởi nhân duyên này mà đi lên, sinh vào thiện xứ.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ở đây bộ ba tâm ý thức chỉ chung cho một thực thể nơi đó những gì đã được kinh nghiệm đều được lưu trữ để dẫn đến kết quả trong tương lai.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nơi khác, kinh nói, “Như con vượn, buông cành cây này, vin nắm lấy cành cây khác. Tâm cũng vậy, cái này diệt thì cái khác sinh.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tâm ở đây chỉ cho ý thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đại Bát-nhã nói: “Pháp tính của Như Lai ở ngay trong uẩn, xứ, giới của các loại hữu tình, vận chuyển tiếp nối liên tục kể từ thời vô thủy; bản tính thanh tịnh không bị nhiễm ô bởi phiền não.
Các tâm-ý-thức không thể vin vào đó làm đối tượng để sinh khởi.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong các trích dẫn trên, các từ tâm, ý, thức, được hiểu là đồng nghĩa, như được khẳng định trong Câu-xá: “Thể của tâm, ý, thức là một.
Tuy nhiên, trong đó cũng có sự phân biệt: Nó tích lũy, nên được gọi là tâm. Nó tư duy, nên gọi là ý. Nó nhận thức khu biệt, nên gọi là thức.
Vì tâm là cái được tích lũy bởi các giới loại sai biệt tịnh và bất tịnh.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ý nghĩa và sự phân biệt này được nói rõ trong Du-già: “Các thức đều có tên chung là tâm-ý-thức.
Nhưng căn cứ theo tính ưu thắng, thức a-lại-da được gọi là tâm (citta), vì nó tích lũy (cinoti, ācinoti, upacinoti) chủng tử của tất cả pháp…… Mạt-na được gọi là ý (manas), vì trong tất cả thời gian, nó chấp (manyate, abhimanyate) ngã, ngã sở…… Các thức còn lại gọi chung là thức (vijñāna), vì đặc tính của chúng là thông tri (vijñapayanti) các đối tượng riêng biệt.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;“Vì nó tích lũy, nên gọi nó là tâm”, trong định nghĩa này, tâm, Skt. citta, được truy nguyên về động từ căn là ci: tích lũy, chứa nhóm.
Định nghĩa này chung cho cả hai truyền thống A-tì-đàm, Nam phương và Bắc phương. Sớ giải Pāli của Pháp tụ luận nói, “Dị thục, cái được tích lũy bởi những nghiệp phiền não, gọi là tâm.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Định nghĩa chung của các hệ Phật giáo y trên động từ căn như vậy không phải là định nghĩa phổ thông trong ngôn ngữ Sanskrit.
Phổ thông, từ citta được giải thích là phát sinh từ động từ cit: cetati, tri giác, chú ý, quan sát……&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Có thể do các nhà Phật học truy nguyên từ một từ gốc trong Phạn ngữ hỗn chủng, như từ citra chẳng hạn.
Từ này trong Pāli được viết là citta, đồng âm với từ chỉ cho tâm.
Citra chỉ cho sự sáng sủa rõ ràng, văn vẻ, tạp sắc, đa dạng; nó cũng chỉ chi họa phẩm; nó cũng được truy nguyên từ động từ căn ci như citta.
Điều này có thể xác minh như được nói trong kinh Hoa nghiêm: “Tâm như họa sĩ khéo, vẽ đủ các hình ảnh ngũ uẩn……”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Và đây cũng là cơ sở ngôn ngữ để phát biểu rằng “tam giới duy tâm”, như được phát biểu trong kinh Thập địa: “Họ (các Bồ-tát) vượt qua ba cõi vốn duy chỉ  là tâm, và 12  hữu  chi cũng chỉ là một tâm.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hoặc trong Kinh Lăng-già: “Ta không nói thường hay vô thường…… vì hữu thể ngoại tại không được thừa nhận, vì ba hữu được chỉ thị duy chỉ tâm.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Những đoạn kinh này là nguồn giáo chứng để các nhà Du-già hành tông hay Duy thức luận thiết lập giáo nghĩa Duy tâm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Với định nghĩa kinh điển như vậy về tâm, hay citta, khi nói rằng “tam giới duy tâm”, không có nghĩa rằng chúng là kết quả được sáng tạo bởi tâm tư duy.
Ý nghĩa không xuyên tạc nên hiểu rẳng, thế giới này là kết quả của hành vi thiện hay bất thiện của chúng sinh trong quá khứ.
Hành vi ấy được tích lũy trong nhiều đời, từ vô thủy, tùy điều kiện thích hợp mà xuất hiện như là thế giới.
Ý nghĩa như được phát biểu bởi Thế Thân trong Câu-xá, mở đầu chương nói về nghiệp: Các hình thái sai biệt đa dạng của thế gian chính là sản phẩm của nghiệp.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hoặc nói theo truyền tụng kinh điển của Du-già hành tông: Đó là tất cả nguyên tố tồn tại từ vô thủy. Chúng là sở y của hết thảy mọi hình thái tồn tại. Trong khi cái này tồn tại thì cái kia tồn tại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nguyên tố nói ở đây, nguyên Sanskrit là dhātu, Hán dịch là giới, chỉ cho những yếu tố cơ bản cấu trúc nên mọi hình thái tồn tại.
Trong kinh điển nguyên thủy, giới này là sáu giới bao gồm bốn đại chủng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong giải thích của Du-già hành, nó chỉ cho chủng tử (bīja).&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chủng tử được định nghĩa là công năng sai biệt (śakti-viśeṣa: Năng lượng đặc thù), tức là nguồn năng lượng cho các hoạt động do bởi đó mà các pháp sinh rồi diệt.
Điển hình như các hoạt động cố ý của thân và ngữ, chúng được phát động bởi năng lực phát động từ ý chí hay tâm sở tư (cetanā).
Khi hoạt động hoàn tất, mục đích đã đạt được, nguồn năng lượng ấy không biến mất theo các động thái của hành động, mà chúng được tích lũy thành một dạng năng lực tiềm tàng dưới hình thức được ví dụ như những hạt giống.
Cũng như trong tự nhiên, từ hạt giống, tuy nhỏ bé nhưng có thể sản sinh thân cây to lớn, do quá trình thâu nạp các yếu tố bên ngoài để tăng trưởng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cũng vậy, từ hạt giống (bīja, chủng tử), sau khi được tẩm ướt bởi các điều kiện thích hợp, và thâu nạp các yếu tố thích hợp (các duyên, pratyaya) chúng nảy mầm và phát triển thành các hình thái tồn tại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Gọi nó là hạt giống, không phải do bởi hạt theo hình dáng, mà chính do bởi nguồn năng lượng được tích lũy bên trong hạt ấy.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Những hạt tương thích kết hợp với nhau thành chùm, được ví dụ như từng đống ác-xoa (akṣa).&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đấy gọi là tập khí (vāsanā), là những ấn tượng được tích lũy, được tàng trữ. Các hạt giống được lưu trữ như là những ấn tượng tồn tại, những tập khí, đó là nội dung của tâm. Như vô số hạt nước hội tụ và tuôn chảy tạo thành hình ảnh một dòng nước hay con sông. Không tồn tại một cái gì như là tự thể độc lập ngoài các hạt nước gọi là sông. Khi không có nước mà vẫn gọi nơi đó là con sông, chỉ là cách nói bởi hoài niệm quá khứ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tâm nói ở đây là tầng đáy của các thức hoạt động. Khi các yếu tố cấu thành nó bị ô nhiễm, tức nó hàm chứa các chủng tử hữu lậu, ô nhiễm, nó được gọi là a-lại-da.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vô số tập khí chủng tử sai biệt đa dạng, thiên hình vạn trạng, chìm lắng, ngưng kết thành a-lại-da, như đại dương mênh mông tích tụ khối nước bao la vĩ đại. Trên mặt đại dương, do tác động bởi gió, nên dậy lên vô vàn con sóng. Kinh Lăng-già nói: “Mạt-na (manas: ý) y chỉ a-lại-da (ālaya) mà tiến hành hoạt động. Thức y chỉ tâm (citta: ālaya) và ý mà tiến hành hoạt động.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ví dụ này cho thấy tâm, ý và thức, hay a-lại-da, mạt-na và sáu chuyển thức kia, thảy đồng cùng một bản chất.
Ý nghĩa này phù hợp với giải thích cụm từ tâm-ý-thức trong các truyền thống A-tì-đàm, như đã thấy.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vậy, thực thể của toàn bộ cơ cấu tâm thức, nhìn từ một phương diện, tất cả đồng một thể tính. Nhưng nhìn từ phương diện hoạt động, chúng xuất hiện dưới tám hình thái, phân thành ba lớp, hoặc nói ba tầng, hay ba khu vực.
Do quan niệm thể và dụng là đồng nhất hay dị biệt mà nói thức thể có tám hay chỉ là một.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cũng như dòng sông, tùy theo địa phương mà con nước chảy qua, và cũng tùy theo những thứ mà con nước mang theo, nó được gọi tên như thế nào đó; cũng vậy, tùy theo kết quả hiện hành của nghiệp, hay dị thục (vipāka), mà a-lại-da cùng với hình thái hiện hành của các chủng tử mà nó xuất hiện trong các hình thái tồn tại khác nhau, hoặc là loài người, hoặc là loài vật. Mỗi cá thể trong mỗi sinh loại khác nhau mang hình thái tự ngã khác nhau.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Điều nên ghi nhận là các chủng tử không tồn tại như những cá thể đơn thuần hay đơn nhất.
Trước hết, nên biết chủng tử được tích lũy như là tập khí do bởi hoạt động của các chuyển thức, mà chủ yếu là sáu thức thâu nhận các dữ kiện ngoại tại.
Thức không hoạt động biệt lập. Nó xuất hiện đồng thời với sự tụ hội của căn và cảnh. Cho nên không một hạt giống nào chỉ thuần là tâm thức hay thuần vật chất.
Nói thức là nói bao gồm cả các chức năng hoạt động của thức (caitta, tâm sở), như các cảm thọ khổ hay lạc, các tâm lý tác hại như tham lam, thù hận, đố kỵ, hay các tâm lý lành mạnh.
Các hạt giống luôn luôn được đặc trưng bởi các đặc tính chua hay ngọt này để dẫn đến kết quả không mong muốn hay đáng yêu thích.
Vì vậy, khối chủng tử được tàng trữ thành a- lại-da, và a-lại-da do đặc tính của chúng như vậy nên được biết đến như là thức, mà tục thức phổ thông nhận nó như là tâm đối lập với vật, với hai thực thể biệt lập.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Từ ý nghĩa trên, khi a-lại-da xuất hiện trong một hình thái tồn tại nào đó, nó xuất hiện như là tự ngã (ātman), chủ thể tồn tại theo hình thái của sinh loại ở đó. Tự ngã ấy hoạt động như là thức. Nghĩa là tồn tại một dạng ý thức thường xuyên nhận thức rằng ta đang tồn tại cũng như đã tồn tại và sẽ tồn tại. Gọi là ý thức hằng hành.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Phật nói: Đối với hạng chúng sinh ái a-lại-da, lạc a-lại-da, hân a-lại-da, hỷ a-lại-da, chúng sinh ấy không thể hiểu pháp thậm thâm mà Phật đã chứng ngộ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nói ái a-lại-da, vì ý thức về tự ngã luôn luôn là ý thức tham ái. Nghĩ rằng ta đã tồn tại, nên nó phát sinh lạc.
Nghĩ rằng ta đang tồn tại, nên nó hân. Nghĩ rằng ta sẽ tồn tại, nên nó hỷ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ý thức hằng hành (mạt-na), như vậy, lấy thân và tâm này, vốn là kết quả của nghiệp quá khứ (vipāka, dị thục), làm đối tượng để có ái, lạc, hân, hỷ.
Để duy trì sự tồn tại của tự ngã ấy, và cũng để thỏa mãn những xung động tâm lý bởi ái, lạc các thứ ấy, theo yêu cầu bản năng của ý thức hằng hành chấp ngã, sáu chuyển thức hoạt động để thâu nạp các yếu tố ngoại giới với mong cầu sự tăng ích, tăng trưởng, cho sắc thân, cảm thọ, các ấn tượng tư duy, thỏa mãn bản năng sinh tồn và dự phóng tương lai.
Nói cách khác, vì ý thức “ta tồn tại và sẽ tồn tại” mà sáu thức hoạt động với các hành vi “ta thấy, ta nghe, v.v……”, cho đến “ta suy nghĩ”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trên cơ sở nhận thức về cơ cấu tồn tại và hoạt động của tâm-ý-thức như vậy, mỗi người có thể tự cho một kết luận về ý nghĩa “duy tâm” (cittamatratā) và “duy thức” (vijñānamatratā) được nói trong các Kinh và Luận, và quan niệm theo tục thức. Cũng trên cơ sở đó để ta có nhận thức về ý nghĩa “thức biến”.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;3. Thức biến&lt;a href=&quot;#3-thức-biến&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Tam thập luận nói, tất cả tồn tại thảy đều tồn tại như là những khái niệm mô tả (upācara), xuất hiện trong nhiều hình thái sai biệt, đa thù.
Tồn tại như thế xuất hiện (pravartate) trong hay y trên sự biến thái của thức (vijñāna- parināme). Một số ngữ vựng được Thế Thân sử dụng trong đây cần được lưu ý hầu mong có thể nắm bắt được nội dung mà luận muốn chỉ điểm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trước hết là từ upacāra mà Hán dịch là giả thuyết.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nghĩa chính của nó là đến gần, cận hành hay tiếp cận; từ đó nó hàm nghĩa phương pháp hay thủ đoạn, và tiến thêm nữa, nó chỉ ngôn ngữ quán dụng.
Cận hành hay tiếp cận, tức là đưa ra một vật này, vật hiện diện, để tiếp cận một vật khác vắng mặt.
Được dùng trong ngữ cảnh ở đây, nó hàm nghĩa giả thác hay ẩn dụ.
Nội hàm này được Sthiramati mô tả bằng ví dụ: “Thiếu niên này là lửa.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người tất nhiên không phải là lửa, nhưng nó được mô tả bằng ẩn dụ với những đặc điểm của lửa, như sức nóng và màu sắc vàng cháy hay màu đỏ của lửa.
Hoặc bảo một người nào đó là con bò; người ấy tất nhiên không phải là bò, nhưng nó ngu như bò.
Đặc điểm ngu có nơi con bò, và cũng có nơi người ấy, do đó giả thác nơi con bò để mô tả bằng ẩn dụ về người ngu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Để thực hiện sự giả thác hay ẩn dụ, theo quy ước, cần hội đủ ba yếu tố:&lt;/p&gt;
&lt;ol&gt;
&lt;li&gt;Cú nghĩa hiện tiền (mukhyapadārtha), phạm trù tồn tại, một người hay một vật cần được mô tả hay ám chỉ đang hiện diện.&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Cảnh vực tương tự (tatsadṛśa-viṣaya), vật tương tự được dùng để ám chỉ.&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Cộng pháp (sādhāraṇa-dharma), tính chất chung giữa người hay vật được ám chỉ mô tả và người hay vật được dùng để ám chỉ, mô tả.&lt;/li&gt;
&lt;/ol&gt;
&lt;p&gt;Tổng quát mà nói, sự giả thác phải y trên một cái thực nào đó.
Nếu không thực sự tồn tại con bò và những đặc điểm nơi con bò, không thể dùng con bò với những đặc điểm của nó để mô tả hay ám chỉ một người.
Đây là nạn vấn được đưa ra để bắt buộc các nhà Duy thức thừa nhận phải có một cái thực nào đó, tồn tại ngoài thức, rồi mới y trên đó mà giả thác.
Nếu không có sự thực được gọi là ngã, hay pháp, vậy y trên cái gì mà nói những thứ tồn tại như là ngã và pháp chỉ là tồn tại được giả thác?&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Duy thức trả lời, cái gọi là sự thực tồn tại được dùng là cơ sở ẩn dụ hay giả thác ấy, chỉ là sự thực trong nhận thức tục thức.
Trước hết, Duy thức bác bỏ tính thực hữu của chủng loại.
Màu đỏ nơi ngọn lửa chỉ tồn tại nơi ngọn lửa ấy; cũng vậy, màu đỏ nơi da người chỉ tồn tại nơi da người ấy.
Trừu tượng  hóa cả hai tính chất ấy thành một khái niệm chủng loại; khái niệm ấy chỉ tồn tại trong tập quán quy uớc, không thực sự hiện hữu trong thực tại.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thí dụ, khi nghe một loạt các âm thanh liên tục, như de-va-dat-to gac-cha-ti, nếu không có khả năng liên kết chúng, thì bản thân các âm thanh ấy tồn tại mà không chỉ cho ý nghĩa gì hết.
Do liên kết các âm thanh thành một từ Devadatta, bấy giờ ấn tượng khái niệm về một tồn tại là một con người có tên gọi là Devadatta.
Tên gọi ấy liên kết với chuỗi âm thanh tiếp theo gacchati, làm xuất hiện ấn tượng về hành vi đi.
Như vậy, tên gọi Devadatta chỉ là sự giả thác; nó là một khái niệm mô tả được dùng để tiếp cận một sự vật được cho là tồn tại.
Như khi hỏi “cỗ xe là gì?”, người ta chỉ có thể trả lời bằng cách mô tả các bộ phận của nó.
Từng bộ phận riêng biệt không phải là cỗ xe.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cho nên, ấn tượng về cỗ xe chỉ là một khái niệm mang tính mô tả; người ta tiếp cận nó bằng cách y  trên các bộ phận được chỉ định, liên kết chúng lại.
Do giả thác mà khái niệm về cỗ xe xuất hiện.
Khái niệm ấy được hình thành do bởi tăng ích chấp (samāropa), gán ghép các yếu tố thành một sự thực giả hữu.
Người ta gán ghép các ngôi sao cách nhau hằng nghìn năm hay hàng triệu năm ánh sáng thành những con sư tử, cây đàn thất huyền, người thợ săn trên Xích đạo.
Những tồn tại ấy không có thực.
Người ta liên kết nhiều chấm liên tục nối nhau thành những đường cong, thẳng, tròn, uốn lượn; rồi liên kết những đường này thành các hình ảnh.
Tự thân các điểm không hề thêm bớt, nhưng các hình ảnh được liên kết bởi chúng được tiếp nhận với các tâm trạng buồn, vui, mừng, giận khác nhau.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Như vậy là ý nghĩa của từ upacāra, tồn tại không gì khác hơn chỉ là những khái niệm mô tả.
Đó là những tồn tại tiến hành xuất hiện trong thức  hay y trên thức.
Từ Sanskrit được dùng ở đây với biến cách thứ bảy: sở y cách hay sở ư cách: pariṇāme.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Huyền Trang dịch nó là danh từ có nội hàm thụ động: sở biến.
Sở biến là các hình thái tồn tại, như là ngã và pháp. Đối lập với nó là năng biến, mà Sanskrit là pariṇāmaḥ, chủ cách trong tụng văn, chỉ các thức, gồm ba loại hay ba lớp.
Quan hệ năng và sở ở đây không thể hiểu như là phù thủy với âm binh do ông ấy biến ra.
Cũng không phải hình ảnh trong tranh vẽ là sở biến của họa sĩ như là năng biến.
Nhưng, nên hiểu rằng những hình ảnh ấy là sở biến mà năng biến chính là những điểm, những đường xuất hiện trên khung vải.
Như vậy ta có thể nói, các hình vẽ ấy xuất hiện và tồn tại ngay chính bên trong, hay y trên, các điểm và đường.
Ngoài các các điểm và đường, không tồn tại hình ảnh gì biệt lập.
Đó là ý nghĩa mà Tam thập luận dùng từ biến thái theo biến cách thứ bảy.
Huyền Trang dịch là sở biến, đối lập với từ được dùng theo biến cách số một, chủ cách, dịch là năng biến, với ý nghĩa cần được hiểu là sở biến không tồn tại biệt lập ngoài năng biến.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Quá trình biến thái này xảy ra như thế nào? Tam thập luận nói: “Sự biến thái của thức này chính là sự cấu trúc sai biệt.
Do bởi đó, mà cái được cấu trúc sai biệt không tồn tại.
Vì vậy nói, tất cả cái này duy chỉ là thức hiển thị.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cấu trúc sai biệt – vikalpa, Hán dịch là phân biệt.
Phân biệt được dùng ở đây không hàm nghĩa kỳ thị, mà nên hiểu là sự phân nhóm để khu biệt.
Như  cả một trời sao chi chít, người ta liên kết một số ngôi sao lại, phân thành từng cụm, để khu biệt mỗi cụm như vậy là một chòm sao riêng biệt, mang tên Đại hùng tinh, hay Tiểu hùng tinh, chòm Thiên lang hay Liệp hộ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cái cấu trúc sai biệt – phân biệt (vikalpa/ parikalpa) chính là thức, hay nói chung là tâm và tâm sở thuộc ba giới.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nó được nói là bất thực (abhūta), vì mỗi khi thức xuất hiện, nó xuất hiện như là ảnh tợ ngoại tại (pratibhāsa); nó biến tợ thành ảnh tượng như là đối tượng (artha, Hán: nghĩa) và chúng sinh (sattva: hữu tình), tự ngã (ātman) và thức thông tri cá biệt (vijñapti). Đối tượng ngoại giới là sắc, thanh các thứ; và chúng sinh hữu tình chỉ cho tự thân và tha thân gồm năm căn. Tự ngã, đó là chủ thể của sinh mạng và nhận thức. Thức thông tri cá biệt, hay liễu biệt, đó là sáu thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nói cách khác, thức biến thái, đó là sự cấu trúc gồm hai bộ phận: chủ thể nắm bắt đối tượng (grāhaka: năng thủ) và khách thể được nắm bắt (grāhya: sở thủ).&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Truy nguyên lại vấn đề từ đầu: Thức biến thái, vậy thức là gì? Để trả lời, nội dung của thức cần được xác định.
Nội dung đó là các chủng tử được tàng trữ trong kho chứa thức.
Mà các chủng tử chính là ấn tượng được tích lũy từ những hành nghiệp quá khứ; thời gian phải kể là từ vô thủy.
Như được nói trong các kinh luận, nó là tâm (citta) vì nó tích lũy vô số tập khí sai biệt từ vô thủy.
Vô số tập khí này được bao hàm trong hai nhóm: tập khí của nghiệp và tập khí của hai thủ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hai thủ là năng thủ và sở thủ, chủ thể và đối tượng của nhận thức.
Bởi vì mỗi khi thức xuất hiện là tự nó phân đôi thành chủ thể và đối tượng tương ứng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thức xuất hiện cần hội đủ bốn điều kiện – bốn duyên: nhân duyên (hetu- pratyaya), đẳng vô gián duyên (samanantara-pratyaya), sở duyên duyên (ālambana) và tăng thượng duyên (adhipati-ptatyaya).
Thứ nhất, thức cần hội đủ điều kiện cơ bản làm sở y, đó là chủng tử của nó được tích lũy.
Các chủng tử này là những nguồn năng lượng mà mỗi khi các đối tượng xuất hiện chúng tức thì bị thu hút vào đó để nơi đó chúng được cấu trúc thành ảnh tượng thích hợp.
Như dòng nước xuất hiện cho thức của con người và thức của loài cá với những ảnh tượng được nhận thức và phán đoán bất đồng.
Chủng tử trong  trạng thái tiềm tàng, khi hoạt động nó xuất hiện thành hiện hành với đặc tính sinh và diệt trong từng sát-na.
Hiện hành thức này diệt là điều kiện khai đạo để cho hiện hành thức trong sát-na tiếp theo xuất hiện.
Chuỗi xuất hiện liên tục tạo thành ảo ảnh thức như là tự ngã thường hằng.
Nói tóm, thức xuất thiện như là hiện hành từ hạt nhân (hetu) của chính nó là chủng tử.
Đó là chủng tử y hay nhân duyên của thức; sở y hay cơ sở xuất hiện và hoạt động là nhân duyên hay chủng tử.
Và điều kiện thứ hai là đặc tính sinh diệt liên tục trong dòng tương tục.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Điều kiện thứ ba, là đối tượng tương ứng. Không thể thức xuất hiện mà không có đối tượng của nó.
Thức và đối tượng phải cùng tồn tại đồng thời, trên cùng một điểm không gian.
Đối tượng của thức ở đây là cái mà thức vươn đến rồi bám vào mà đứng dậy, mà xuất hiện và hoạt động; nó được gọi là sở duyên (ālambana): cái được vin nắm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Điều kiện thứ tư, tăng thượng duyên, cũng gọi là tăng thượng y hay câu hữu y.
Nói là tăng thượng y, vì khi thức xuất hiện và hoạt động, nó cần một điểm sở y là điểm đứng thích hợp.
Thức con mắt cần điểm sở y là căn con mắt.
Các thức khác cũng vậy.
Căn ở đây là loại sắc pháp minh tịnh, một loại vật chất trong suốt (rūpa-prasāda); nó là sắc pháp, thuộc hữu vi, nên sinh diệt trong từng sát-na.
Thức cũng là pháp hữu vi nên cũng sinh diệt trong từng sát- na.
Chỉ thức sinh mà chưa diệt cùng tồn tại đồng thời với sắc sinh mà chưa diệt; trên cơ sở ấy thức có điểm tựa thích hợp để tiến hành hoạt động nắm bắt đối tượng.
Căn cùng tồn tại đồng thời với thức nên căn ấy được gọi là câu hữu y của thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngoài ra, thức cần đến tác động của đối tượng ngoại giới để xuất hiện. Tác động này là điều kiện gián tiếp, thuộc tăng thượng duyên.
Nói là gián  tiếp, vì thức chỉ có thể nắm bắt đối tượng xuất hiện bên trong chính nó.
Như Biện trung biên nói, thức xuất hiện với ảnh chiếu hay ảnh tợ như là đối tượng và thức thông tri (artha-pratibhāsa, và vijñapti-pratibhāsa).
Hoặc như định nghĩa bởi luận Quán sở duyên duyên luận thích: gọi nó là đối tượng của thức – sở duyên duyên, là cái để thức vươn đến, vì khi thức sinh khởi mang theo ảnh tượng của nó – đái bỉ tướng (tadākāra).&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ở đây, khi căn, cảnh tiếp xúc và thức xuất hiện, nói rằng nó mang hình ảnh của đối tượng, có nghĩa là tự thân nó biến thái như là ảnh chiếu của đối tượng.
Điều này được Câu-xá cho thí dụ rất rõ.
Thức mang ảnh chiếu của đối tượng, như quả mang hình ảnh của nhân, tương tự nhân.
Hoặc ta có thể lấy thí dụ khác, như con mang hình ảnh bố, tương tự bố. Từ Skt; tadākāra cho ta ý nghĩa này cũng khá rõ.
Nghĩa phổ thông của từ ākāra là hình dáng, hình thái, do bởi gốc động từ ā-kṛ: mang đến gần.
Vì vậy từ ākāra có khi được dùng như đồng nghĩa với từ ābhāsa, ảnh tượng hay ánh sáng; hoặc pratibhāsa, ánh sáng phản chiếu hay ảnh chiếu.
Cho nên, Câu-xá nói: “Thức làm ra cái gì, để được nói rằng thức nhận thức? Nó chẳng làm ra bất cứ cái gì cả.
Như quả đáp ứng nhân; nó chẳng làm gì cả nhưng do bởi tự thể đạt được của nó tương tự với nhân (sādṛśyena ātmalābhād akurvad api kiṃcit).
Thức cũng vậy. Nhưng, nó tương tự cái gì? Tướng dạng của cái ấy (tadākāratā, Hán dịch: đới bỉ tướng)”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Như vậy, thức chỉ có thể nắm bắt được ảnh tượng được cấu trúc bên trong chính nó, nhưng nó cũng cần đến điều kiện tác động của đối tượng ngoại tại.
Ảnh tượng của đối tượng bên trong nó là biến thái của chính nó; vậy đối tượng bên ngoài nó được biến thái bởi cái gì, bởi ai?
Thành duy thức trả lời, đó là do bởi thức của cộng nghiệp, với dẫn chứng Kinh: “Thế giới xuất hiện do ảnh hưởng cộng đồng bởi lực tăng thượng của nghiệp của tất cả hữu tình.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tất nhiên đây chỉ nhấn mạnh đến thế giới tạp uế của tất cả chúng sinh.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Không một chúng sinh nào tồn tại như những cá nhân đơn độc.
Nó cùng thấy sông và núi tại một địa điểm cố định và trong khoảng thời gian nhất định, như các chúng sinh đồng loại khác.
Thế giới tồn tại ấy là sự biến thái cộng đồng của tất cả chúng sinh tồn tại trong đó.
Nội dung của thức là các tập khí của nghiệp.
Nghiệp, có biệt nghiệp do hành vi của mỗi cá nhân riêng biệt; và có cộng nghiệp, được thực hiện bởi cộng đồng.
Cho nên, thức một cá nhân không thể biến thái thành thế gian theo tập khí cá biệt của riêng nó.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bởi vì tâm thức chúng sinh thảy là hữu lậu và ô nhiễm, hỗn tạp với các nghiệp thiện và bất thiện, cho nên thế giới xuất hiện như là kết quả mang các hình thái sai biệt trong đó những thứ đáng yêu thích lẫn lộn với những cái không mong muốn, đáng ghê tởm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Phật nói: “Chúng sinh là sở hữu chủ của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thức biến có thể được nói là nỗ lực giải thích lời Phật cô đọng như vậy.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nghiệp là các hành vi thân và ngữ được phát động bởi tư, bởi ý định, cố ý (cetanā), với tính chất hoặc thiện hoặc bất thiện.
Các hành vi của thân và ngữ là những biểu hiện của sắc.
Khi các động thái chấm dứt, thì nghiệp được biểu hiện bởi các động tác ấy cũng biến mất theo.
Tuy vậy, năng lực điều khiển các động thái của thân và ngữ, được nhuốm màu thiện hay bất thiện bởi tư (cetanā), được huân tập thành chủng tử và được tàng trữ trong kho chứa thức.
Thực hiện quá trình huân tập này là các thức hiện hành, gồm cả bảy chuyển thức.
Chỉ các thức này mới có khả năng huân tập.
Vì chúng là những trường hấp lực thu hút các năng lực hoạt động đã được thực hiện.
Tất cả mọi hành vi của nghiệp đều được phát động và hướng dẫn bởi nhận thức.
Các thức hiện hành này bị chi phối bởi tập khí hai thủ – năng thủ và sở thủ, theo đặc tính cấu trúc phân đôi.
Tập khí hai thủ là những năng lực hoạt động nhận thức của các thức tích lũy.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Giải thích năng lực tồn tại của nghiệp sau khi được thực hiện, Trung luận gọi nghiệp được thực hiện bởi thân và ngữ như là món nợ, vật vay mượn.
Vật được vay mượn tất được tiêu thụ và biến mất ngay sau đó.
Như đấu gạo được vay biến mất khi người vay mượn xử lý nó thành cơm và tiêu hóa.
Nhưng ý chí giao ước giữa vay và cho vay thì không biến mất.
Cái còn lại sau khi nghiệp biểu hiện bởi thân ngữ biến mất được gọi là “cái không mất” (vipraṇāśa).
Cái không mất ấy được ví dụ như chứng khoán (pattra).&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thành duy thức nói: “Các nghiệp ấy vừa được thực hiện thì diệt ngay không gián cách, do đó không thể dẫn đến quả dị thục trong tương lai.
Nhưng nó huân tập bản thức để sản sinh công năng của chính nó. Công năng ấy được gọi là tập khí.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đó là cái được tác thành bởi sự huân tập của khí phần của nghiệp.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bài tụng thứ 18 của Tam thập luận tiếp theo nói: “Thức, hạt giống của tất cả, do tác động hỗ tương, tiến hành biến thái như vậy như vậy.
Bằng sự biến thái đó phát sinh cấu trúc phân biệt thế này thế kia.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thức, mà nội dung là tập khí của nghiệp, được gọi tên là nhất thiết chủng (sarvabīja), vì nó hàm chứa công năng từ đó phát sinh các kết quả, tức chúng sinh và thế giới trong đó chúng sinh tồn tại.
Cũng như hạt giống, để cho mầm, rồi cây trái, nó trải qua loạt quá trình biến thái, thay đổi từ trạng thái tồn tại này sang trạng thái tồn tại khác, nhưng sự biến thái ấy không diễn ra đơn nhất mà luôn luôn cần kết hợp với các yếu tố bên ngoài để phát triển.
Cũng vậy, từ chủng tử là nghiệp quá khứ được tích lũy thành tập khí được tàng trữ trong kho chứa thức; các loại chủng tử hay công năng sai biệt này thường xuyên tồn tại trong điều kiện tương tác, chúng thường xuyên gây ảnh hưởng cái này lên cái kia, diễn thành quá trình biến thái, theo quy luật quan hệ nhân-duyên-quả.
Chính những năng lực tác động hỗ tương này mà xuất hiện các hình thái cấu trúc sai biệt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tập khí của nghiệp như vậy được xử lý để sản sinh kết quả dị thục cần đến lực tác động của tập khí hai thủ.
Sthiramati nói: “Cũng như do có sự cộng đồng hợp tác của hạt giống, nước, v.v., các thứ mà mầm nảy sinh.
Cũng vậy, do sự cộng đồng hợp tác với tập khí của hai thủ mà từ tập  khí  của nghiệp  hữu thể tồn tại sản sinh từ bản thân của nó.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tụng 19 nói:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Khi dị thục trước đã hết, tập khí của các nghiệp, cùng với tập khí của hai thủ, lại sản sinh các dị thục khác.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;Như vậy vòng sinh tử xoay chuyển bất tận.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Khi các hạt giống được tẩm ướt đến giai đoạn quyết định, nghĩa là lực tương tác giữa các chủng tử đến độ chín muồi, chúng – các tập khí của nghiệp, cho ra kết quả, được gọi là dị thục.
Thức thứ tám, tầng căn bản của các hoạt động tâm thức, được gọi tên là nhất thiết chủng, và cũng được gọi là thức dị thục (vipāka-vijñāna), vì nó là kết quả của nghiệp, sự biến thái của tập khí nghiệp.
Dị thục, là tên gọi trong kinh luận nguyên thủy và A-tì-đàm chỉ cho kết quả của nghiệp thiện và bất thiện quá khứ.
Khi quả dị thục phát sinh, là  khi các tập khí chủng tử đã được xử lý thích đáng để được tiêu thụ. Những gì đã được tiêu thụ thì cũng tiêu mất.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Quả dị thục ấy có hai phần: Chân dị thục (vipāka) và dị thục sinh (vipākaja).
Chân dị thục, như chất thể di truyền để từ đó phát triển thành các bộ phận hoạt động của thân và tâm, mắt, tai, v.v., cho đến ý.
Chúng là những chi tiết phát triển từ chân dị thục, được gọi là những dị thục sinh, sản phẩm của dị thục.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Khi quả của nghiệp được chín muồi, quả ấy được cảm thọ hoặc khổ hoặc lạc.
Y trên thân và tâm hiện tại mà các cảm thọ ấy phát sinh.
Các cảm thọ này kịch liệt hay yếu ớt, kéo dài hay ngắn hạn, thảy đều tương xứng với cường độ của nghiệp quá khứ khi được tạo tác; chúng được hạn định bởi các cường độ ấy.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cho nên, thời gian và mức độ cảm thọ có giới hạn. Hết mức độ ấy, quả di thục được nói là đã tiêu thụ hết.
Thế nhưng, khi thân và tâm thọ lãnh các cảm thọ khổ hay lạc, chúng có xu hướng tự nhiên, nói là pháp nhĩ như thị, tìm cách trấn áp hay xoa dịu cảm thọ khổ, và tăng cường cảm thọ lạc.
Nói chung, trong thế giới hữu lậu ô nhiễm của các loại hữu tình, không hề tồn tại lạc vĩnh viễn.
Nhưng bản tính của chúng sinh là cố duy trì lạc cho được vĩnh viễn.
Nói cách khác, quả dị thục của nghiệp tất yếu dẫn đến khổ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Với ước vọng thoát cái khổ hiện tại, tránh cái khổ trong tương lai, chúng sinh bị thúc đẩy bởi các động lực tham ái, các phiền não ô nhiễm, để tầm cầu và tiến hành các hoạt động thu thập và tích lũy những gì được phán đoán là dẫn đến kết quả lạc thọ trong tương lai.
Nhưng những phán đoán ấy y trên nhận thức sai lầm, vì các dữ kiện cung cấp cho nhận thức luôn luôn trở thành hư vọng do bởi đặc tính cấu trúc phân biệt chủ quan của tâm thức.
Y trên những phán đoán sai lầm về thực tại ấy mà chúng gây nghiệp.
Rồi nghiệp lại dẫn đến quả dị thục mà tất yếu là khổ.
Cho nên, tụng nói khi dị thục cũ được tiêu thụ hết thì dị thục khác lại được sản sinh.
Kho tập khí của nghiệp là nguồn vốn xuất nhập không bao giờ trống không để chúng sinh không ngừng tạo mãi và đầu tư cho thế giới mộng ảo thường trực thay cũ đổi mới.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Về mức hạn định của tập khí, nói chung có hai loại.
Một loại tập khí hữu hạn, sẽ bị tiêu hủy sau khi sản sinh dị thục; đó là tập khí của nghiệp.
Một loại khác được thọ dụng mà không hề cạn kiệt, đó là tập khí hai thủ.
Nhiếp luận nói: “Thức a-lại-da có hai đặc tính, thọ dụng cùng tận, và thọ dụng không cùng tận.
Chủng tử thiện và bất thiện khi đã thành quả dị thục, bấy giờ nó cạn sạch. Nhưng không cạn sạch, đó là chủng tử của danh ngôn huân tập, bởi vì kể từ thời vô thủy nó là chủng tử lưu chuyển hý luận.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Những cái được thấy, được nghe, được cảm giác, được nhận thức; tất cả những cái ấy đều là đối tượng bất thực, vì chúng được tái cấu trúc do đặc tính phân biệt của thức.
Chúng được gọi là các hý luận (prapañca).
Nếu khi tập khí của nghiệp cạn kiệt hết sau khi thọ dụng mà tập khí danh ngôn cũng cạn kiệt, bấy giờ sẽ không thể khởi lên nhận thức điên đảo do bởi tập khí hai thủ thì nghiệp mới không được tạo tác.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hoặc-nghiệp-khổ, đó là mối quan hệ nhân quả của vòng quay 12 chi duyên khởi trong dòng lưu chuyển sinh tử vô cùng tận.
Kinh Thập địa nói: “Tam giới duy chỉ là tâm (citta). Mười hai hữu chi (bhavāṅga) cũng chỉ là một tâm.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đó là ý nghĩa thức biến, là nội dung của giáo nghĩa duy tâm được nói trong các kinh điển Đại thừa.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;4. Thành duy thức&lt;a href=&quot;#4-thành-duy-thức&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Thành lập giáo nghĩa duy thức, tụng 17 nói: “Sự biến thái của thức này chính là sự cấu trúc sai biệt.
Do bởi đó, mà cái được cấu trúc sai biệt không tồn tại. Vì vậy nói, tất cả cái này duy chỉ là thức hiển thị.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Biện trung biên cũng  nói:  “Cái  tồn  tại  là  chỉnh  thể  cấu  trúc  bất  thực (abhūtaparikalpa; Hán: hư vọng phân biệt).
Ở đây,  nhị  nguyên (dvayaṃ) không hiện thực. Nhưng trong đó Không tính (śūnyatā) hiện thực. Chỉnh thể cấu trúc ấy cũng hiện thực trong Không tính.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cái được gọi là chỉnh thể cấu trúc bất thực, cái hư vọng phân biệt, chính là thức.
Nhị nguyên được nói trong bài tụng chỉ cho hai thủ, năng và sở.
Thế giới tồn tại qua sự phân đôi năng và sở; tồn tại ấy bất thực. Cái tồn tại thực sự, duy chỉ là thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chính xác, nói theo tụng 17, tồn tại duy chỉ là thức thông tri.
Hay nói cụ thể, theo ngôn ngữ quy ước, tồn tại duy chỉ là tồn tại như những dữ kiện cho thức thông tri.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Để giải thích thức như là cái hư vọng phân biệt, Tam thập luận phân thức thành ba lớp hay ba dạng biến thái.
Lớp biến thái thứ nhất, với ba tên gọi: a- lại-da (ālaya), dị thục (vipāka) và nhất thiết chủng (sarvabīja), được diễn giải chi tiết từ nửa sau tụng 2 đến toàn tụng 4.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lớp biến thái thứ hai, thức mạt-na (manas), gồm ba bài tụng: 5, 6 và 7.
Lớp ngoài cùng, sáu thức, gồm các bài tụng, từ 8-16. Tụng 17 lập thành giáo nghĩa duy thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong kinh điển nguyên thủy tuy được lưu truyền qua các bộ phái khác nhau, nhưng tất cả đều chỉ đề cập sáu thức.
Dù có đề cập đến ba từ tâm-ý- thức, nhưng tất cả các bộ phái đều kể chung trong một ý xứ, trong thức uẩn.
Trong các kinh điển Đại thừa tiền kỳ, điển hình như các kinh thuộc văn hệ Bát nhã, cũng chỉ đề cập sáu thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Do vậy, các nhà Trung quán cũng chỉ thừa nhận có sáu thức; bác bỏ tồn tại thức thứ tám riêng biệt ngoài sáu thức.
Cho là sự thành lập này không cần thiết.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vậy, để chứng minh sự tồn tại của thức thứ tám, và hệ luận theo đó là thức thứ bảy, như là những thức thể biệt lập với sáu thức nguyên thủy, Duy thức học cần viện dẫn các kinh điển để làm căn cứ.
Tất nhiên là kinh điển Đại thừa. Các kinh này đại bộ phận thuộc hệ tư tưởng Như lai tạng (tathāgarbha).
Thêm nữa, để cho các dẫn chứng kinh điển có hiệu lực, Duy thức học cũng cần phải chứng minh các Kinh đó là do Phật thuyết.
Luận Đại thừa Trang nghiêm kinh đề xuất tám luận điểm.
Luận Hiển dương Thánh giáo đề xuất mười luận điểm. Thành duy thức căn cứ luận Trang nghiêm, nhưng chỉ nêu bảy luận cứ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Căn cứ trên các kinh điển được chứng minh do chính Phật thuyết, Thành duy thức biện minh cho sự thành lập thức thứ tám và thức thứ bảy.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trên cơ sở thức biến, duy chỉ là thức, được quảng diễn như vậy, các tụng 18 và 19 nói về duy thức duyên khởi bao gồm các vấn đề quan hệ nhân, duyên và quả; và tiến trình sinh tử với 12 chi duyên khởi.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Các bài tụng tiếp theo, từ 20 đến 25, nói về ba tự tính và ba vô tính.
Tự tính (svabhāva) là thể tự hữu của tồn tại; nó tồn tại như là chính nó.
Trong các tụng này, quan điểm về thực tại của Duy thức được biện minh.
Tự thể của tồn tại, đâu là chân thật, đâu là hư vọng? Tồn tại được nhận thức được phân cấp thành hai lớp.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Lớp ngoài mặt, trong nhận thức tục thức, đó là tồn tại đã được cấu trúc (parikalpita: sở biến kế) bởi thức vốn là tác viên cấu trúc (vikalpa: năng phân biệt/ biến kế), do đó tự thể của chúng là bất thực, không tồn tại.
Tự thể của cái bị cấu trúc không tồn tại, nhưng tự thể của tác viên cấu trúc thì tồn tại.
Bản chất của tự thể đó là y tha (paratantra), luôn luôn có xu hướng vươn đến cái khác, quan hệ đến cái khác.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tác viên cấu trúc hay cái năng phân biệt/ năng biến kế này, trong giải thích của Hộ Pháp (Dharmapāla), mà cũng chính là lập trường của Thành duy thức, là thức thứ sáu và thứ bảy.
Trong điều kiện các thức này bị ô nhiễm, các hình thái được cấu trúc bởi chúng là những thứ hư vọng bất thực.
Khi các thức này được chuyển y, căn cơ của chúng được chuyển đổi, để trở thành trí diệu quán sát và bình đẳng tính, tự thể của tồn tại trong quan hệ y tha này là chân thực.
Tự thể của tồn tại như vậy được gọi là viên thành thật (pariniṣpanna).&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Như vậy, Duy thức không hoàn toàn phủ nhận tự thể tồn tại chân thực, mà chỉ phủ nhận tồn tại cấu trúc bởi thức ô nhiễm là hư vọng bất thực.
Duy chỉ có điều, lập trường của Duy thức là khẳng định rằng, thực tại chân thực ấy chỉ tồn tại trong thức.
Nói “duy chỉ là thức” ý muốn nói là chỉ tồn tại trong thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tiếp theo, các bài tụng nói về ba vô tính (niḥsavabhāva), để hội thông ý nghĩa cũng thường được nghe trong các kinh điển Đại thừa: hết thảy các pháp đều không tự tình (tự thể).
Tụng đề cập một cách cô đọng ý nghĩa này bằng từ saṃdhya, Hán dịch là “mật ý”, là điều nói ám chỉ.
Giải thích ý nghĩa của từ này, Thành duy thức nói: “Từ ‘mật ý’ chỉ rõ rằng đó chưa phải là liễu nghĩa”.
Ẩn ý của giải thích này muốn nói rằng lập trường của các nhà Trung quán nói rằng nhất thiết pháp không, vì không có tự tính, chưa phải là giáo nghĩa cuối cùng mà Phật muốn chỉ dạy, mặc dù chính Đức Phật cũng nói rằng nhất thiết pháp không (sarvadharmā śūnyāḥ).&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Các bài tụng còn lại diễn giải các quá trình thể nghiệm Duy thức tính,  cho đến thành Phật.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Như vậy, Tam thập luận đã thành lập Duy thức luận như một hệ thống hoàn chỉnh, trong đó xác định lập trường quan điểm rằng, nói “duy thức”, tồn tại duy chỉ là thức, có nghĩa rằng tất cả chỉ là những biến thái bên trong thức.
Thế nào là bên trong thức? Điều đó phải chăng là phủ nhận tồn tại của bản thân tồn tại bên ngoài thức, hay chỉ nói rằng đối tượng của thức không tồn tại bên ngoài thức.
Để làm rõ ý nghĩa này, Thế Thân viết Nhị thập luận.
Tác phẩm này được xem là bộ phận thứ hai của Thành duy thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Chủ đích của Nhị thập luận là chứng minh ý nghĩa phủ định đối tượng ngoại giới, như được nêu rõ trong bài tụng mở đầu:
“Cái đó duy chỉ là thức, vì ảnh hiện của đối tượng không có thực, như người bịnh bạch nội chướng nhìn thấy sợi tóc, mặt trăng thứ hai, các thứ bất thực.”&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong các thí dụ được nêu, như mặt trăng thứ hai tất nhiên chỉ xuất hiện bên trong thức.
Nhưng mặt trăng thứ nhất cố nhiên là tồn tại độc lập bên ngoài thức.
Hoặc như thí dụ trong bản Hán dịch, con rắn tất nhiên chỉ xuất hiện trong thức, trong khi thực tế bên ngoài tất yếu tồn tại sợi dây.
Quan điểm này là lập trường của các nhà Trung quán như Kamalaśīla (Liên Hoa Giới), truyền thừa của Bhaviveka (Thanh Biện).
Mặt khác, các nhà Duy thức hậu kỳ như Dignāga (Trần-na) và các môn đệ cho rằng mặt trăng thứ nhất tuy là có thực tồn tại bên ngoài thức trong ý nghĩa tục đế, nhưng trong ý nghĩa siêu việt, thắng nghĩa đế, nó cũng là bất thực, chỉ tồn tại bên trong thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tiếp theo, bài kệ thứ hai nêu lên bốn nguyên tắc khẳng định ý nghĩa tồn tại, mà nếu Duy thức nói duy chỉ là thức thông tri (vijñaptimatra) chứ không tồn tại đối tượng ngoại giới (anart,ha), thế thì mâu thuẫn với bốn nguyên tắc tồn tại này.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bốn nguyên tắc đó là,&lt;/p&gt;
&lt;ol&gt;
&lt;li&gt;Xứ quyết định (deśaniyama), một vật tồn tại nhất định tồn tại trong một khoảng gian xác định.&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Thời quyết định (kālaniyama), nó cũng chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định.&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Tương tục bất định (santānasya aniyamaḥ), bất cứ ai, tại địa điểm đó và trong khoảng thời gian đó đều có thể thấy vật đó.&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Tác dụng hữu hiệu (kṛtyakriyā), cái có thực, cái đó tất phải có tác dụng hữu hiệu.&lt;/li&gt;
&lt;/ol&gt;
&lt;p&gt;Tác giả trả lời: Xứ và thời như trong chiêm bao. Tương tục bất định, như cùng trước một con sông mà người, vật, thiên thần, ngạ quỷ thấy không giống nhau.
Cuối cùng, hoạt động trong chiêm bao vẫn có thể có tác dụng, như người mộng tinh.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trọng điểm của Nhị thập luận là phủ nhận đối tượng khách quan. Các đối tượng này bao gồm năm cảnh thuộc sắc, và một thuộc ý.
Trong đó, các đối tượng thuộc sắc được cho là tổ hợp của các yếu tố sắc cực kỳ vi tế, gọi là cực vi (paramāṇu).
Phủ nhận khái niệm thực hữu về cực vi cũng được Thế Thân đề cập trong luận Câu-xá.
Theo đó, tồn tại cực vi chỉ là khái niệm giả tưởng, do phân tích tập hợp sắc cho đến khi không thể phân tích được mà cho rằng  đó là sắc nguyên tố, yếu tố cực vi.
Khái niệm về cực vi hoàn toàn mâu thuẫn với chính nó.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bổ túc cho lý luận phủ định khái niệm cực vi thực hữu, Dignāga viết Ālambana–parīkṣā (Quán sở duyên) trong đó nêu lên luận điểm quan trọng là thuyết sa-ākāra, nhận thức hữu tướng.
Nghĩa là khi nhận thức, ảnh tượng hay hình thái của đối tượng (ākāra) phải xuất hiện trên hay trong thức.
Tiên khởi, thuyết ākāra được đề xuất trong Câu-xá như đã được nói ở đoạn trên.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nói một cách tóm tắt, gọi nó là đối tượng của thức, vì khi thức xuất hiện mang theo ảnh tượng của nó trong thức.
Khi mắt nhận thức sắc, trong nó chỉ mang ảnh tượng tổ hợp sắc, không hề có ảnh tượng của cực vi.
Kết luận của Dignāga trong đây rằng sắc chỉ là biến thái của thức, tồn tại trong thức.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Với đối tượng của tha tâm trí, Nhị thập luận cũng kết luận là không tồn tại ngoài thức của thức tri nhận.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thành duy thức như vậy thành lập giáo nghĩa duy thức bởi hai tác phẩm.
Tam thập luận trình bảy chi tiết về biến thái của thức, và Nhị thập luận nêu chứng lý phủ nhận tồn tại đối tượng khách quan để khẳng định duy chỉ thức, tồn tại duy chỉ là dữ liệu thông tri cho nhận thức.&lt;/p&gt;
&lt;h2&gt;5. Thành duy thức luận&lt;a href=&quot;#5-thành-duy-thức-luận&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt;Thành duy thức luận, Hán dịch bởi Huyền Trang, là bản luận giải chi tiết Tam thập luận.
Bài tựa của Khuy Cơ, viết cho Thành duy thức luận thuật ký, nói Duy thức Tam thập luận là một trong mười chi luận của Du-già.
Thế Thân cô đọng tất cả tinh hoa tư tưởng của ngài về giáo nghĩa Duy thức để viết tác phẩm này.
Chỉ mới viết xong phần thi tụng mà chưa kịp viết văn trường hàng giải thích, ngài đã thị tịch.
Đương thời chỉ có hai vị đại luận sư là Thân Thắng và Hỏa Biện viết Tụng thích.
Về sau, có thêm tám vị nữa viết Tụng thích.
Mười vị luận sư sớ giải này, cùng với quan điểm của mỗi vị, thường xuyên được dẫn trong Thành duy thức luận.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tiểu sử mười vị Luận sư này được Khuy Cơ giới thiệu khá chi tiết trong&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thành duy thức luận ký. Dưới đây tóm lược tiểu sử, theo Thuật ký.&lt;/p&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;Đạt-ma-ba-la 達磨波羅 (Dharmapāla): Hộ Pháp 護法 (Tl. 530-561); con vua nước Đạt-la-tì-trà (Draviḍa), thành Kiến-chí (Kañcipura). Mất năm 32 tuổi, tại chùa Đại bồ-đề.&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Củ-noa-mạt-để (Guṇamati) 寠拏末底: Đức Huệ 德慧 (Tl. 420-500), nguyên là thầy của An Huệ. Theo Phật giáo sử của Taranatha (Tây-tạng), Đức Huệ và An Huệ đều là đệ tử theo học Đức&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Tất-sỉ-la-mạt-để 悉恥羅末底 (Sthiramati: An Huệ 安慧 (470-550), người Nam Ấn, nước La-la thuộc hàng tiên đức của Hộ Pháp. Ngài chú giải khá nhiều tác phẩm của Thế Thân.&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Bạn-đồ-thất-lị 畔徒室利 (Bandhuśrī): Thân Thắng 親勝 (tk. 5), đồng thời với Thế Thân, người đầu tiên viết Tụng thích.&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Nan-đà 難 陀 (Nanda): Hoan Hỷ 歡 喜 (450-530), học thuyết được truyền thừa xuống Thắng Quân. Có lẽ thuộc hàng tiền bối của Hộ Pháp.&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Thú-chiến-đạt-la 戍陀戰達羅 (Śuddhacandra): Tịnh Nguyệt 淨月(tk. 6), đồng thời với An Huệ.&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Chất-đát-ra-bà-noa 質呾羅婆拏 (Citrabhāṇa): Hỏa Biện 火辨 (tk. 5), đồng thời với Thế Thân.&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Tì-thế-sa-mật-đa-la 毘世沙蜜多羅 (Viśṣeṣamitra): Thắng Hữu 勝友(cuối tk. 6)&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Thần-na-phất-đa-la 辰那弗多羅 (Jinaputra): Tối Thắng Tử 最勝子 (cuối tk. 6)&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;Nhã-na-chiến-đạt-la 若那戰達羅 (Jñānacandra): Trí Nguyệt 智月(cuối tk. 6).&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;p&gt;Theo chính tường thuật của Khuy Cơ trong Chưởng trung xu yếu, ban đầu Huyền Trang định dịch tất cả mười bản sớ giải ấy, giao cho bốn vị đệ tử là Thần Phưởng, Gia Thượng, Phổ Quang, và Khuy Cơ nhuận sức và bút thọ.
Sau vài hôm, Khuy Cơ xin rút lui. Huyền Trang vặn hỏi lý do, Khuy Cơ cho rằng toàn bộ quá dài không thể nắm hết ý nghĩa, đề nghị rút gọn lại thành một bộ.
Huyền Trang đồng ý, bèn tóm thâu ý nghĩa của mười bản luận giải thành một, chia làm mười quyển.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nói là tóm thâu tinh nghĩa của mười bản luận giải, nhưng giải thích chủ yếu trong đây là quan điểm của Hộ Pháp.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Huyền Trang vừa dịch, vừa giảng những điểm quan trọng trong đó.
Khuy Cơ thâu thập và sau đó viết thành bản sớ giải làm nền tảng cho các nghiên cứu về Thành duy thức luận tại Trung Hoa, cũng như Nhật Bản.
Bản sớ giải tựa đề là Thành duy thức luận thuật ký.
Bản dịch Việt của Thành duy thức luận này phần lớn cũng thâu thập các dữ liệu từ trong bản Thuật ký này để hiểu rõ hơn chính văn.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sau Thuật ký, Khuy Cơ cũng viết thêm Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu, 2 quyển, bổ túc một số luận điểm còn nghi ngờ trong Thuật ký.
Các môn hạ của Khuy Cơ trong đó đáng kể là Huệ Chiểu và Trí Châu cũng viết hai bản sớ giải quan trọng, giải thích rộng những điều chưa được rõ trong Thuật ký.
Đây là những tài liệu tham khảo quan trọng cho những công trình muốn nghiên cứu chi tiết Thành duy thức luận.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngoài ra, đương thời còn có Viên Trắc, cùng học Duy thức với ngài Huyền Trang, soạn Thành duy thức luận sớ, 10 quyển; trong đó nhiều đoạn chỉ trích Khuy Cơ giải thích sai lầm.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Viên Trắc lập thành một hệ Pháp tướng tông đối nghịch với Khuy Cơ.
Nhưng hệ này thất truyền, và Thành duy thức luận sớ của Viên Trắc cũng thất lạc, chỉ có thể tìm thấy phiến đoạn trong các dẫn chứng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Về ý nghĩa tựa đề Thành duy thức, như được giải thích bởi chính luận trong đoạn cuối, phần kết luận.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Luận nói:&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;Luận này gồm có ba phần để thành lập duy thức, do đó nói là luận Thành duy thức. Luận này cũng được nói là có tên Tịnh duy thức, vì sự diễn giải lý duy thức cực kỳ trong sáng.
Luận gốc của nó gọi là Duy thức tam thập, do ba mươi bài tụng trình bày lý duy thức đến mức hoàn hảo, không nhiều  hơn hay ít hơn.&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;p&gt;Như vậy, luận này cũng còn có tên gọi khác nữa, là Tịnh duy thức luận. Nói “diễn giải …… cực kỳ trong sáng” là giải rõ ý nghĩa từ tịnh.
Theo đó, tịnh ở đây có nghĩa là minh tịnh, tức Sanskrit prasanna.
Hình dung từ này cũng được Candrakīrti (Nguyệt Xứng) dùng để đặt tên cho bản chú giải Căn bản Trung luận (Mūlamadhyamakakārikā) của mình: Prasannapadā, Tịnh minh cú luận.
Vậy, tên Sanskrit có thể được đề nghị cho Tịnh duy thức luận là Vijñaptimātraprasāda-śāstra.&lt;/p&gt;
&lt;blockquote&gt;
&lt;p&gt;TUỆ SỸ&lt;/p&gt;
&lt;/blockquote&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://www.dieungu.org/p13281a38325/dan-vao-duy-thuc-hoc&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; DẪN VÀO DUY THỨC HỌC - dieungu.org &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://tuesy.net/dan-vao-duy-thuc-hoc/&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; DẪN VÀO DUY THỨC HỌC - tuesy.net &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;GHI CHÚ&lt;a href=&quot;#ghi-chú&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;</content:encoded><category>category:VIJNANAVADA</category><category>tag:TUỆ SỸ</category></item><item><title>TRUYỀN THỪA THIỀN TÔNG FULL</title><link>https://tosuthien.org/post/truyen-thua-thien-tong-full</link><guid isPermaLink="false">truyen-thua-thien-tong-full</guid><pubDate>Fri, 19 Jun 2026 00:00:00 GMT</pubDate><content:encoded>&lt;h2&gt;SƠ ĐỒ TRUYỀN THỪA&lt;a href=&quot;#sơ-đồ-truyền-thừa&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;pre&gt;&lt;code&gt;&lt;span&gt;&lt;span&gt;infographic hierarchy-tree-lr-curved-line-capsule-item&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;data&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  title 28 vị tổ Ấn Độ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;  items&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;    - label Śākyamuni Buddha&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;        - label Mahakasyapa (tổ 1)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;            - label Ananda (tổ 2)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                - label Shanavashin (tổ 3)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                    - label Upagupta (tổ 4)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                        - label Dhitika (tổ 5)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                            - label Mishaka (tổ 6)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                - label Vasumitra (tổ 7)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                    - label Buddhanandi (tổ 8)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                        - label Buddhamitra (tổ 9)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                            - label Parshva (tổ 10)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                - label Punyayasha (tổ 11)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                    - label Anabodhi (tổ 12)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                        - label Kapimala (tổ 13)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                            - label Nagarjuna (tổ 14)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                - label Kanadeva (tổ 15)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                    - label Rahulabhadra (tổ 16)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                        - label Samghanandi (tổ 17)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                            - label Samghayathata (tổ 18)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                - label Kumaralata (tổ 19)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                    - label Shayata (tổ 20)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                        - label Vasubandhu (tổ 21)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                            - label Manorata (tổ 22)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                - label Haklenayasha (tổ 23)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                    - label Sư Tử Bồ Đề (tổ 24)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                        - label Đạt Ma Đạt&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                          value 70&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                          icon mingcute/ad-circle-line&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                            - label Nhân Đà La&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                - label Đạt Ma Thi Lợi Đế&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Ma Đế Lệ Bạt La&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label A Lợi Bạt Mâu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                - label Phá Lâu Cầu Đa La&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Hòa Tu Bàn Đầu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Đạt Ma Kha Đế&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Chiên Đà La Đa Ba&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                - label Na Già Nan Đề&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                - label Ba La Bà Đề&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                            - label Cù La Kỵ Lợi Bà&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                - label Ba La Bạt Ma&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Nặc La Đa La&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Bàn Đầu Đa La&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Bà Ba Bà La&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                - label Tăng Già La Xoa&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Tì Xá Dã Đa La&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Tì Lâu La Đa Ma&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Tì Túc Xô Đa La&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Ưu Bà Chiên Đà&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Bà Nan Đề Đa&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                        - label Bashashita (tổ 25)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                            - label Punyamitra (tổ 26)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                - label Prajnadhara (tổ 27)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Phật Đại Tiên&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                    - label Bồ-Đề-Đạt-Ma (tổ 28)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                        - label Đạo Dục&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                        - label Đạo Phó&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                        - label Ni Tổng Trì&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                        - label Nhị Tổ Huệ Khả (tổ 29)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                            - label Tăng Na&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                            - label Hướng cư sĩ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                            - label Tương Châu Tuệ Mãn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                            - label Hiện Sơn Thần Định&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                            - label Bảo Nguyệt&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                            - label Cư sĩ Huê Nhàn &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                            - label Đại sĩ Hóa công&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                            - label Hòa công&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                            - label Cư sĩ Liêu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                            - label Cư sĩ Huê Nhàn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                - label Đàm Thúy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                    - label Diên Lăng Tuệ Giản&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                    - label Bành Thành Tuệ Sai&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                    - label Định Lâm Tuệ Cương&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                        - label Lục Hiệp Đại Giác&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                            - label Cao Bưu Đàm Ảnh&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                - label Thái Sơn Minh Luyện&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                    - label Dương Châu Tĩnh Thái&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                            - label Tam Tổ Tăng Xán (tổ 30)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                - label Tỳ-ni-đa-lưu-chi&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                    - label Chung Sơn Pháp Hiển&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                - label Tứ Tổ Đạo Tín (tổ 31)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                    - label Ngưu Đầu Pháp Dung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                        - label Kim Lăng Đàm Thôi&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                        - label Ngưu Đầu Trí Nham&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                            - label Ngưu Đầu Tuệ Phương&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                              children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                - label Ngưu Đầu Pháp Trì&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                  children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                    - label Ngưu Đầu Trí Oai &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                        - label An Quốc Huyền Đĩnh&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                        - label Hạc Lâm Huyền Tố&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                        - label Thiên Trụ Sùng Tuệ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                        - label Kính Sơn Đạo Khâm&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                        - label Đạo Lâm Ô Khòa&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                        - label Chiêu Hiền Hội Thông&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                        - label Ngưu Đầu Tuệ Trung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                            - label Phật Quật Duy Tắc&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                                            - label Thiên Thai Vân Cư Trí&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                    - label Daman Hongren (tổ 32)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                      children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                        - label Ngọc Tuyền Thần Tú&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                        - label Tung Nhạc Tuệ An&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                        - label Mông Sơn Đạo Minh&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                        - label Dajian Huineng (tổ 33)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                          children&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span&gt;&lt;span&gt;                                                                                                                                            - label Tây Ấn Quật Đa Tam Tạng&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/code&gt;&lt;/pre&gt;
&lt;h2&gt; &lt;strong&gt;NGŨ TÔNG&lt;/strong&gt;&lt;a href=&quot;#-ngũ-tông&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt;⚡️ Lâm Tế thế thắng&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; Quy Ngưỡng trao nhau&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; Tào Động đinh ninh&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; Pháp Nhãn linh xảo&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;
&lt;p&gt; Vân Môn thẳng tắt&lt;/p&gt;
&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;h2&gt;NGUỒN&lt;a href=&quot;#nguồn&quot;&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;p&gt; &lt;a href=&quot;https://phatgiao.org.vn/gia-phong-cua-ngu-gia-tong-phai-thien-phat-giao-d26613.html&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt; phatgiao.org.vn &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded><category>category:Bài viết</category><category>tag:Truyền thừa</category></item></channel></rss>